Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hưng Yên


SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN (Kỳ 4)

Ngày đăng: 15/10/2018, Lượt xem: 25
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá XII về tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.
Được sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên, trong ba tháng, từ tháng 8 đến tháng 10/2017 toàn thể cán bộ viên chức Trung tâm tiếp tục tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác đến toàn thể cán bộ, viên chức bằng hình thức sinh hoạt chuyên đề và đã đạt được kết quả như sau:

I- Tổng số chuyên đề đã thực hiện trong ba tháng (từ tháng 8 đến tháng 10/2017): gồm 9 chuyên đề - cụ thể:

TT

Tên chuyên đề

Thời gian

thực hiện

Đơn vị

thực hiện

1

Tư tưởng HCM về nói đi đôi với làm

11/8/2017

Phòng NN-TH

2

Tư tưởng HCM về giản dị, khiêm tốn

17/8/2017

Phòng BDNC

3

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác tại TTGDTX tỉnh HY

24/8/2017

Phòng QLĐT

4

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận

27/9/2017

Phòng NN-TH

5

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý tại Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên

21/9/2017

Phòng QLĐT

6

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường

13/9/2017

Phòng BDNCTĐ

7

Tư tưởng HCM trong việc chữa căn bệnh cấp bậc

12/10/2017

Phòng NN-TH

8

Học tập Tư tưởng Hồ Chí trong việc xin chỉ thị, gửi báo cáo.

18/10/2017

Phòng BDNCTĐ

9

Tính chuyên nghiệp trong công tác kế toán

31/10/2017

Phòng QLĐT

II- Nội dung cơ bản của các chuyên đề:

- Đối với nội dung các chuyên đề về học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, đã toát nên được những tư tưởng, đạo đức và phong cách của Hồ Chủ tịch qua từng vấn đề, từng sự việc một cách cụ thể, qua đó để mỗi cá nhân trong cơ quan hiểu và thấm nhuần một cách sâu sắc về tư tưởng của Bác, từ đó áp dụng vào trong công việc một cách hiệu quả.

- Đối với các chuyên đề về hoạt động chuyên môn, nội dung chuyên đề đi sâu vào tìm hiểu từng vị trí, từng nhiệm vụ công việc một cách cụ thể, để từ đó, giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc được giao.

- Mỗi chuyên đề đều có phần liên hệ thực tế với nhiệm vụ cụ thể trong cơ quan, những việc đã làm được, chưa làm được, nêu rõ nguyên nhân, cách khắc phục. Phần cuối chuyên đề là các câu hỏi thảo luận xoay quanh nội dung chuyên đề, liên hệ thực tế với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân, các tình huống và cách xử lý. Với những ý kiến thảo luận đóng góp hết sức sôi nổi, mỗi cá nhân trong đơn vị đã nhận thức một cách sâu sắc công việc mình đang đảm nhiệm và ngày càng cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn, giúp cho cơ quan ngày càng phát triển.

1- CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM.

1.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta phải nói đi đôi với làm

“Nói thì phải làm” là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm. Đối với mỗi người, để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với việc làm phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến “nói không đi đôi với làm”. Để “nói đi đôi với làm”, còn cần có sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. “Nói đi đôi với làm” thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người.

           Theo Người, về bản chất, “nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người.

1.2- Học tập tư tưởng HCM về  nói đi đôi với làm

Một là, nói phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Để làm được điều này, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ động nghiên cứu sâu, tìm hiểu kỹ những nội dung cơ bản, cốt lõi về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, khi đã nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì phải truyền đạt lại cho nhân dân đúng nội dung, đúng tinh thần, không nói sai, không xuyên tạc.

            Hai là, “nói đi đôi với làm”, không được “nói một đàng làm một nẻo”. Theo Bác, “lời nói đi đôi với việc làm”, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Khi đề ra công việc, phải tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu. Khi nói cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Cán bộ phải “nói đi đôi với làm”, nói trước làm trước. Không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết, mình không làm việc nhưng hô hào người khác làm việc thì không được. Nếu nói rằng phải cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà bản thân lại lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, luôn tìm cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân; sống xa hoa, lãng phí trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn,... thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng giáo dục.

           Để chống việc “nói một đàng làm một nẻo”, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tập thể và cá nhân. Khi giao nhiệm vụ cần thật cụ thể, chi tiết, không chung chung, đại khái, ai hiểu thế nào cũng được, như vậy rất khó thực hiện. Mỗi công việc đều phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, lộ trình, tiến độ, khối lượng và chất lượng. Khi giao việc cho nhân viên, thủ trưởng phải làm gương trước; nói với nhân dân, cán bộ, đảng viên phải làm trước để người dân làm theo. Đồng thời với việc giao nhiệm vụ, cần phải đi sâu đi sát, kiểm tra đôn đốc kết quả của việc thực hiện những công việc đã đề ra, không thể làm theo lối quan liêu - giao việc xong phó mặc cho người thực hiện.

           Ba là, không được hứa mà không làm. Lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện; đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, từ việc nhỏ đến việc lớn mang ý nghĩa thiết thực. Để tránh việc hứa mà không làm, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên đã “nói thì phải làm”, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ lãnh đạo làm gương cho nhân viên; cấp trên làm gương cho cấp dưới; cán bộ, đảng viên làm gương cho nhân dân. Đồng thời, cần giao cho một đơn vị hoặc cá nhân thường xuyên kiểm tra, giám sát và nhắc nhở đối với những tổ chức, cá nhân đã đưa ra lời hứa và yêu cầu tổ chức, thực hiện cho đúng. Có những việc cần giao cho nhân dân kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện.

1.3. Tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh “về nói đi đôi với làm”

Người quan niệm: Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước; tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính, mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Năm 1945, trước nạn đói trên miền Bắc, Người đề xuất toàn dân tiết kiệm gạo để giúp đồng bào bị đói và Người kêu gọi: "Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.

Những năm Hồ Chí Minh sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, khi kinh tế khó khăn, đời sống nhân dân còn nghèo khó, mọi người ăn cơm độn ngô, khoai, sắn, Người đề nghị nhà bếp: Cán bộ, nhân dân ăn độn bao nhiêu phần trăm, nấu cơm độn cho Người từng ấy, giống như cán bộ, nhân dân. Trong các chuyến đi thăm các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng vì không muốn phiền hà đến cơ sở…

1.4 – Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

Để thực hiện tốt việc nói đi đôi với làm, trước hết lãnh đạo, nhân viên phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình, cụ thể những công việc được giao. Mỗi người phải cảnh giác với sự ngoan cố tinh vi của chủ nghĩa cá nhân đang ẩn nấp quanh chúng ta. Lãnh đạo phải có sự kiểm tra giám sát, nhân viên phải nắm vững chủ trương chính sách phát luật của nhà nước. Trên cơ sở pháp luật, lãnh đạo đề ra những chủ trương cụ thể và mọi người phải thực hiện.

Về cơ bản chúng ta đã có hướng làm theo Bác Hồ về mọi mặt, nhưng làm chưa tốt. Thượng tôn pháp luật còn hời hợt, một số đồng chí còn chưa tuân thủ một cách nghiêm túc về giờ giấc làm việc, chưa biết tận dụng thời gian một cách triệt để.

Chúng ta đã thắp ngọn lửa theo tư tưởng HCM, lời Bác Hồ là dựa vào những người đi trước, nói đúng và làm theo là đúng, phải dẹp bỏ chủ nghĩa cá nhân, chúng ta phải hiểu mình đang ở đâu, ít hay nhiều việc, nếu ít việc cần phải làm cho tốt.

          Mỗi chúng ta cần phải nắm vững được vai trò và trách nhiệm của mình. Tập thể phải đoàn kết thương yêu, nói đi đôi với làm.

2- CHUYÊN ĐỀ: TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐỨC GIẢN DỊ, KHIÊM TỐN.

2.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao chúng ta lại phải giản dị khiêm tốn          Giản dị không có nghĩa là thô sơ, cục mịch, giản đơn mà giản dị là cách sống, cách suy nghĩ chân thật, trung thực của con người. Giản dị là cách sống không cầu kì, xa hoa, sống phù hợp với hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh cá nhân. Sự giản dị thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau: từ cách sử dụng vật chất, lời ăn tiếng nói hằng ngày, cách hành xử của mỗi người, cử chỉ, cách thể hiện bản thân …

Người sống giản dị là người biết cách trang phục phù hợp với bản thân, phù hợp với tính cách, văn hóa, điều kiện kinh tế, không cầu kì; là người ăn nói cẩn thận, không khoa trương, không dùng lời lẽ xa hoa, bóng bẩy, lời nói đơn giản, ngắn ngọn, dễ hiểu, truyền đạt đúng và đầy đủ thông tin mà họ muốn nói.  Người có tính giản dị thường sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền có mục đích đúng đắn, nhìn nhận sự việc đúng mức, không quan trọng hóa vấn đề.

Khiêm tốn là sự kính nhường, có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình hơn người, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, không ngừng học hỏi.

Người khiêm tốn là người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình. Người khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại. Lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn tìm mọi phương diện để học hỏi.

2.2- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đức giản dị khiêm tốn.

Với bao thế hệ Việt Nam, thì Hồ Chủ tịch thật gần gũi thân thương và đáng kính “Người là Cha, là Bác, là Anh” và vô cùng khiêm tốn, giản dị. Bác của chúng ta là một tấm gương sáng ngời về đức tính giản dị. Nơi làm việc cũng là nơi ở của Người chỉ là một ngôi Nhà sàn đơn sơ với các đồ đạc đủ dùng ở mức tối thiểu và cần thiết nhất. Hàng ngày, Người thường dùng bữa với vài ba món ăn dân dã, đơn giản. Trang phục Người thường mặc nhất là bộ bà ba nâu, bộ ka ki vàng và đôi dép cao su… Sự giản dị của Người còn thể hiện ở trong từng lời nói luôn luôn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Nói về chủ nghĩa xã hội, Người nói một cách thật dễ hiểu là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau được chữa bệnh”.

Sự khiêm tốn cũng là một đức tính nổi bật của Bác Hồ. Là lãnh tụ nhưng Người khiêm tốn với tất cả mọi người, cả người già và người trẻ. Đối với những người giúp việc thường xuyên bên mình, Bác thường gọi hết sức thân mật và trân trọng là cô, chú như những người trong gia đình. Đối với các vị nhân sĩ, trí thức khi tiếp chuyện Bác luôn thưa gửi rất lễ độ và đúng mực. Khi Quốc hội đề nghị tặng Bác Huân chương cao quý nhất của Nhà nước là Huân chương Sao Vàng. Biết tin ấy, Bác Hồ rất cảm động.

Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là minh chứng sống động cho đức khiêm tốn, giản dị của Người. Mỗi khi gặp gỡ đồng bào, Bác coi như những người ruột thịt nên câu chuyện thân tình, không có khoảng cách trên dưới, bởi thế những điều Người nói như những lời gợi mở, khuyên nhủ thật dễ nhớ để làm theo. Trong bữa ăn, thấy có món ngon, món lạ là Bác hỏi. Nếu anh em phục vụ bảo nơi này, nơi kia biếu là Bác nhắc: Bác có phải là vua đâu mà cung với tiến, rồi Người đem chia đều thức ăn cho mọi người.

Nhiều lần đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa phương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi được mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Ðồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước ta còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Bác bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản. Nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm mọi người và qua đó Bác càng trở nên vĩ đại.

3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề

- Qua chuyên đề chúng ta cần phải học rất nhiều, từ lời ăn tiếng nói, hành động, cử chỉ, cách hành xử của bản thân  – ví dụ: ăn mặc đúng người, không theo thời tiết, không theo mốt, phải mặc phù hợp với mình, ăn nói mộc mạc, không khoa trương, nói đúng mục đích, dễ hiểu… che giấu những cái khốn khó của mình không phải là giản dị.

- Sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền đúng mục đích, sống trong sáng, khiêm tốn, là chính mình, phải thượng tôn pháp luật, có niềm tin vào Đảng, có lí tưởng, có chính kiến, sống giản dị và khiêm tốn.

- Nói về công việc, chúng ta chưa học được nhiều, sự thiếu khiêm tốn thể hiện ở mỗi viên chức, những người có lối sống ích kỷ đến một lúc nào đó sẽ bị trả giá, những lời nói không chính ngôn, không trong cuộc họp ta không cần bàn tới, nên để phía sau. Mỗi người cố gắng một chút, mỗi người nhịn đi một chút, mỗi người phấn đấu hơn một chút… để gần gũi, đoàn kết với nhau hơn. Nếu trong lòng vẫn còn ham muốn, ích kỷ cá nhân … thì rất khó để thay đổi.

3- CHUYÊN ĐỀ: NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC TẠI TTGDTX TỈNH HY

3.1- Vì sao phải nâng cao tính chuyên nghiệp trong công việc:

Trong môi trường làm việc năng động, hiện đại, tính chuyên nghiệp là một trong những tiêu chí hàng đầu quyết định sự thành công của một đơn vị hay thăng tiến của các cá nhân. Chính vì vậy tính chuyên nghiệp trong công việc ngày càng được đề cao và là một trong những yêu cầu đầu tiên đối với cán bộ viên chức; người lao động.

3.2- Cách rèn luyện cho bản thân tính chuyên nghiệp trong công việc

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính chuyên nghiệp trong công việc, nhưng tựu trung lại đều thống nhất rằng " tính chuyên nghiệp được khẳng định bằng hiệu quả". Chuyên nghiệp, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là chuyên tâm vào công việc của mình. Ai chuyên tâm làm việc đều đã có thể là chuyên nghiệp. Khi chuyên tâm và dốc toàn lực vào đó thì thường họ sẽ rất giỏi trong phạm vi công việc của mình.

Chuyên nghiệp là biết cách điều tiết công việc phù hợp với tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốt nhất. Hay chuyên nghiệp thể hiện qua tác phong làm việc nhanh nhạy, khoa học kết hợp với việc nắm vững về kiến thức chuyên môn.

Phong cách "chuyên nghiệp" không chỉ có trong những công việc có quy mô lớn mà phải thể hiện ngay trong những công việc nhỏ. Mục đích của sự chuyên nghiệp là nhằm tạo ra sự hoàn chỉnh và sự hoàn chỉnh chỉ có được khi tất cả các chi tiết dù là nhỏ nhất phải được xây dựng một cách đồng bộ, nhất quán.

3.3- Vì sao phải xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp.

Trong một cơ quan, đơn vị, một môi trường làm việc chuyên nghiệp là  trong đó tất cả các cá nhân đều làm việc một cách chuyên  Môi trường làm việc chuyên nghiệp là môi trường có những đồng nghiệp đều chuyên nghiệp, có ý thức công việc cao, kỹ năng tốt và biết phối hợp hỗ trợ nhau một cách nhịp nhàng, nơi mà ở đó chính bản thân mỗi chúng ta cũng phải là một mắt xích trong cỗ máy chạy trơn tru đó. Môi trường chuyên nghiệp đó được thể hiện cụ thể như sau:

+ Có cầu nối giữa lãnh đạo và nhân viên

+ Biết rõ mục tiêu của đơn vị.

+ Hiểu rằng bản thân là một phần của đơn vị, những đóng góp của ta đều được ghi nhận và khuyết điểm được chỉ ra kịp thời.

+ Nơi làm việc  không phải là nơi để tán gẫu.

+ Cách làm việc cởi mở, minh bạch, rõ ràng.

+ Môi trường cho phép sự thăng tiến của bản thân.

+ Tâm trạng làm việc tích cực.

+ Doanh thu cao, thưởng cao.

+ Không sợ hãi công việc.

+ Mọi người luôn hỗ trợ nhau.

+ Tránh tin đồn gây mâu thuẫn.

Vì vậy việc xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp là điều không thể thiếu đối với đơn vị; một môi trường làm việc chuyên nghiệp sẽ luôn có sự đoàn kết thấu hiểu lẫn nhau và mang lại  hiệu quả cao trong công việc.

3.4- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Tất cả các công việc dù lớn hay nhỏ đều cần chuyên nghiệp, từ ý tưởng đến cách thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.

- Quan điểm về tính chuyên nghiệp gồm các tiêu chí sau:

+ Chú ý tới các quy tắc văn hóa nơi làm việc.

+ Nhận thức được những phản hồi là của công việc, không phải mang tính cá nhân.

+ Viết rõ ràng, không sai chính tả, câu cú ngắn gọn, thoát ý.

+ Linh hoạt, không nên bỏ dở công việc.

+ Luôn đáng tin cậy, lí do phải chính đáng.

+ Làm việc nhiều hơn yêu cầu tối thiểu.

+ Đừng xem cấp trên như người đối lập.

- Mỗi người cần xem lại trong các tiêu chí nêu trên, cái gì mình đã làm được, cái gì mình còn thiếu để kịp thời sửa chữa.

- Tác phong chuyên nghiệp là sản phẩm của tính tự học, quyết định sự thành công của cá nhân và của tập thể.

- Tính chuyên nghiệp của lãnh đạo và nhân viên đều như nhau, nhưng ở mức độ khác nhau, vì chuyên nghiệp có nghĩa là chuyên tâm vào công việc của mình.

- Nếu đồng nghiệp của mình thiếu chuyên nghiệp thì mình nên góp ý cho họ để họ hoàn thiện hơn. Chia sẻ và giúp đỡ người khác thì chính mình cũng sẽ hoàn thiện hơn.

- Phong cách chuyên nghiệp, tính chuyên nghiệp chính là độ chuyên sâu về nghề nghiệp, từ việc nhỏ nhất cũng phải mang cái tâm của mình ra làm việc thì mới đem lại hiệu quả.

- Tập thể của chúng ta là một tập thể chuyên nghiệp nhưng tính chuyên nghiệp ở mức độ nào thì cần phải soi lại các tiêu chí trên để đánh giá.

4- CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÝ LUẬN VÀ HỌC TẬP LÝ LUẬN

4.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta lại phải học tập lý luận

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế” và “không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”. Như vậy, lý luận đối với Hồ Chí Minh không phải là mục đích tự thân, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, phải được chứng minh trong thực tiễn và khi được vận dụng vào thực tiễn, nó được bổ sung, phát triển, trở nên phong phú và sâu sắc hơn, phản ánh đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn các quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của con người.

Lý luận có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đối với Đảng và đối với mỗi con người.

Đối với cách mạng Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là do thiếu lý luận cách mạng đúng đắn dẫn đường. Trải qua những cuộc đấu tranh, nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch. Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”

Đối với Đảng: Là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết của lý luận đối với Đảng. Người chỉ rõ cách mạng muốn thành công tất yếu phải có Đảng lãnh đạo. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.

Đối với sự hình thành nhân cách con người: Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”. Con người có lý luận soi đường, sẽ hành động đúng, trở thành những công dân tốt, những cán bộ tốt, sẽ hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

4.2- Học tập tư tưởng HCM về lý luận và học tập lý luận

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; đòi hỏi cán bộ đảng viên phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện chủ nghĩa tập thể. Nó đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải khắc phục các bệnh quan liêu và cô độc hẹp hòi để liên hệ chặt chẽ với quần chúng, do đó mà phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”.

“Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”.

Hồ Chí Minh không chỉ nói rõ mục đích, động cơ học tập lý luận, mà còn chỉ rõ phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp với bản chất cách mạng và khoa học của lý luận Mác - Lênin. Theo Người, “không phải học để thuộc lòng từng câu, từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc. Nhưng chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”. Rằng, chúng ta “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng… giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế”.

Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, học lý luận không phải để thuộc lòng từng câu, từng chữ, cũng không phải học lý luận vì lý luận, học lý luận để đem loè thiên hạ, để kiêu ngạo, để thành con mọt sách, thành người lý thuyết suông, học lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về học tập lý luận cho chúng ta thấy, Người là một nhà duy vật thực tiễn tiêu biểu - đó là chủ nghĩa duy vật hành động, chủ nghĩa duy vật thực tiễn, đưa lý luận cách mạng vào quần chúng, khơi dậy và phát huy sức mạnh của quần chúng, đem lý luận gắn liền với quần chúng nhân dân. (Còn nữa)