Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hưng Yên


SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN Kỳ 5

07/03/2018
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá XII về tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Được sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên, trong tháng11 và tháng 12/2017 toàn thể cán bộ viên chức Trung tâm tiếp tục tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác đến toàn thể cán bộ, viên chức bằng hình thức sinh hoạt chuyên đề và đã đạt được kết quả như sau:

I-Tổng số chuyên đề đã thực hiện trong tháng 11 và tháng 12/2017: gồm 6 chuyên đề- cụ thể:

TT

Tên chuyên đề

Thời gian

thực hiện

Đơn vị

thực hiện

1

Tính chuyên nghiệp trong công tác lãnh đạo

09/11/2017

QLĐT

2

Học tập và làm theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh

15/11/2017

NN-TH

3

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

29/11/2017

BDNC

4

Tư tưởng HCM về bệnh quan liêu mệnh lệnh

08/12/2017

NN-TH

5

Nâng cao hiệu quả quản lý hồ sơ tài liệu văn phòng

14/12/2017

QLĐT

6

Tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giữ bí mật.

27/12/2017

BDNCTĐ

II- Nội dung cơ bản của các chuyên đề:

- Đối với nội dung các chuyên đề về học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, đã toát nên được những tư tưởng, đạo đức và phong cách của Hồ Chủ tịch qua từng vấn đề, từng sự việc một cách cụ thể, qua đó mỗi cá nhân trong cơ quan hiểu và thấm nhuần một cách sâu sắc về tư tưởng của Bác, từ đó áp dụng vào trong công việc một cách hiệu quả.

- Đối với các chuyên đề về hoạt động chuyên môn, nội dung chuyên đề đi sâu vào tìm hiểu từng vị trí, từng nhiệm vụ công việc một cách cụ thể, từ đó, giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc được giao.

- Mỗi chuyên đề đều có phần liên hệ thực tế với nhiệm vụ cụ thể trong cơ quan, những việc đã làm được, chưa làm được, nêu rõ nguyên nhân, cách khắc phục. Phần cuối chuyên đề là các câu hỏi thảo luận xoay quanh nội dung chuyên đề, liên hệ thực tế với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân,các tình huống và cách xử lý. Với những ý kiến thảo luận đóng góp hết sức sôi nổi,mỗi cá nhân trong đơn vị đã nhận thức một cách sâu sắc công việc mình đang đảm nhiệm và ngày càng cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn, giúp cho cơ quan ngày càng phát triển.

1- CHUYÊN ĐỀ: TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO

1.1- Vai trò của người lãnh đạo:

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, người Lãnh đạo đó là “người cán bộ”. Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc; muôn việc thành công hay thất bại đều là do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta. Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Yêu cầu trong huấn luyện cán bộ: Là phải làm sao có hiệu quả cao, đào tạo ra cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên”.

1.2. Những Kỹ năng cần có của một lãnh đạo chuyên nghiệp

- Kỹ năng ra quyết định:

Ra quyết định là khâu mấu chốt trong kỹ năng lãnh đạo, đó là lúc người lãnh đạo phải lựa chọn giải pháp tối ưu nhất để giải quyết vấn đề hoặc quyết định một kế hoạch gì đó. Việc ra quyết định nhanh hay chậm, đúng hay sai sẽ quyết định kết quả của kế hoạch đó. Vì vậy, khi ra quyết định người lãnh đạo luôn phải cân nhắc đến tất cả những lợi thế và rủi ro phải đối đầu, việc ra quyết định thể hiện năng lực, trình độ của người lãnh đạo.

- Kỹ năng giải quyết vấn đề:

Người lãnh đạo chuyên nghiệp cần phải có kỹ năng giải quyết vấn đề nhanh và chính xác. Người lãnh đạo không thể làm ngơ hay đùn đẩy trách nhiệm cho người khác khi có những vấn đề hóc búa hoặc những vấn đề phát sinh trong tập thể của mình. Để làm được điều này, người lãnh đạo cần phải là người thật sự công bằng và nhanh nhạy nắm bắt thời cơ thuận lợi để vấn đề được giải quyết tốt nhất.

- Có tư duy chiến lược:

Tư duy chiến lược là cách suy nghĩ, cách tư duy hướng đến những mục tiêu lớn lao, dài hạn và có cơ sở vững chắc, dựa vào những phân tích khoa học, bao quát, đầy đủ để đưa ra quyết định. Do đó, tư duy chiến lược là điều vô cùng quan trọng đối với người lãnh đạo, nó thể hiện được tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo và của cả cơ quan, giúp cơ quan có những bước phát triển tốt.

- Tự tin và quyết đoán:

Tự tin và quyết đoán là hai điều mà kỹ năng lãnh đạo cần trau dồi thường xuyên. Khi đứng trước khó khăn, thử thách của cơ quan, người lãnh đạo chính là thuyền trưởng chèo lái con thuyền, con thuyền có cập bến an toàn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào người thuyền trưởng đó. Do vậy, nếu không tự tin và quyết đoán trước những cơ hội có thể con thuyền sẽ bị nhấn chìm.

- Thu hiểu chính mình và thấu hiểu đối tác:

Thấu hiểu chính mình sẽ giúp cho người lãnh đạo làm chủ được bản thân, biết được mục tiêu của mình từ đó sẽ có kế hoạch, chiến lược cụ thể để đạt được mục tiêu. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu được bản thân mà không hiểu được đối tác thì người lãnh đạo sẽ không thể làm được những điều mình muốn. Vì vậy việc thấu hiểu đối tác cũng là nghệ thuật của những nhà lãnh đạo chuyên nghiệp.

- Kỹ năng giao việc:

Người lãnh đạo phải có kỹ năng quản lý và giao việc cho nhân viên. Để làm được điều này,người lãnh đạo phải luôn sâu sát với nhân viên của mình, biết được năng lực, sở trường của họ. Khi đó người lãnh đạo sẽ dễ dàng giao việc mà không lo sợ nhân viên không làm được hoặc quá sức của họ.

- Kỹ năng giao tiếp với nhân viên:

Chú ý lắng nghe nhân viên, dành thời gian cho nhân viên, trò chuyện cùng nhân viên; biết cách kiểm soát căng thẳng của bản thân trong các cuộc tranh luận… là những kỹ năng giao tiếp cơ bản cần có của một nhà lãnh đạo.

- Kỹ năng tạo động lực:

Người lãnh đạo cần có khả năng truyền cảm hứng cho nhân viên, đồng thời là một người cố vấn. Tập trung vào việc mang lại những điều tốt nhất cho nhân viên, phát triển tài năng của họ và khuyến khích họ đưa ra sáng kiến và đánh giá.

Người lãnh đạo phải biết cách tạo động lực cho nhân viên, có khen thưởng rõ ràng, bên cạnh đó cần có những lời động viên để họ thoát khỏi tình trạng mệt mỏi khi làm việc căng thẳng. Có như vậy người lãnh đạo mới thật sự là chuyên nghiệp và hiểu tâm lý nhân viên.

- Kỹ năng khác:

Tính chuyên nghiệp của lãnh đạo còn được thể hiện qua việc điều hành tốt công tác kiểm tra giám sát, chỉ đạo tốt công tác Công đoàn, công tác Ban thanh tra nhân dân. Tạo được sự liên minh, tính đoàn kết toàn đơn vị tạo sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị với kết quả cao.

1.4 – Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

- Người lãnh đạo có một vai trò hết sức quan trọng đối với một cơ quan, đơn vị. Từ đó, đòi hỏi người cán bộ phải hội tụ đầy đủ những kỹ năng cần có để trở thành một nhà lãnh đạo chuyên nghiệp. Người lãnh đạo chuyên nghiệp cần có 19 kĩ năng, trong đó 10 kĩ năng của nhân viên cộng thêm 9 kĩ năng đặc thù, Người lãnh đạo giỏi sẽ thể hiện ở kĩ năng ra quyết định, sẽ chỉ đạo tất cả các kĩ năng còn lại. Bên cạnh đó, người lãnh đạo chuyên nghiệp cần có đủ kĩ năng nhìn nhận, đánh giá xem ai là người làm được việc.

- Một người lãnh đạo định hướng tốt thì nhân viên cũng chuyên nghiệp, tuy nhiên điều quan trọng nhất vẫn là nhân viên phải tự trau dồi tính chuyên nghiệp của mình.

- Đối với cơ quan ta, về cơ bản lãnh đạo đã chuyên nghiệp, nhưng sự chuyên nghiệp chưa đồng đều (giao việc cho nhân viên mà nhân viên làm hỏng việc nhiều lần cũng khiến lãnh đạo không chuyên nghiệp). Lãnh đạo cần hiểu được ưu nhược điểm của bản thân để tự cố gắng, khắc phục.

- Ban lãnh đạo và mỗi nhân viên đều cần tự rèn luyện cho mình tính chuyên nghiệp, rèn bản lĩnh làm việc vững vàng, tư duy tốt, tu dưỡng đạo đức, lối sống chuẩn mực, khiêm nhường trong giao tiếp, ứng xử.

- Bên cạnh việc chấp hành tốt các nội quy, quy định tại cơ quan thì chúng ta cần tự trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ.

2- CHUYÊN ĐỀ: HC TP VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH TƯ DUY H CHÍ MINH

2.1- Tại sao chúng ta phải học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh

Phong cách tư duy của Người là việc rất cần thiết đối với mỗi người dân, đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ đảng viên, từ đó tạo nên phong cách tư duy mạch lạc, có chính kiến, không khuôn mẫu giáo điều.

Khi nói tới phong cách tư duy của Hồ Chí Minh, đầu tiên phải nói đến phong cách tư duy: độc lập, tự chủ và sáng tạo.

- Độc lập: là không lệ thuộc, không phụ thuộc, không theo mẫu, không giáo điều, tự tìm tòi học hỏi và suy nghĩ.

-Tự chủ: tự bản thân làm chủ suy nghĩ của mình, làm chủ công việc, chịu trách nhiệm trước nhân dân.

- Sáng tạo: từ bỏ cái cũ lạc hậu, lỗi thời, không phù hợp với cái mới. Cái mới phù hợp với thực tiễn, tiếp thu những điểm ưu việt và bổ sung thêm những giá trị mới cho cái cũ. Người nói “không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ..cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý… cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…cái gì mới mà hay thì ta phải làm”.

2.2- Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh:

Với Hồ Chí Minh, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo đồng nghĩa với một bản lĩnh Chính trị vững vàng, tinh thần cách mạng, dũng cảm, dám nghĩ đến những điểm táo bạo tốt đẹp mặc dù là ý kiến thiểu số trên cơ sở nhân cách và tài năng; có thái độ, hành động, quan điểm độc lập, không vì áp lực ngoại cảnh mà thay đổi chính kiến. Đặc biệt là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Tổ Quốc, nhân dân và Đảng. Tránh xa lối suy nghĩ và hành động cứng nhắc, giáo điều, kinh nghiệm. Phong cách tư duy Hồ Chí Minh luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn đất nước, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể từ đó, Người mở rộng tư duy, nghiên cứu các hệ tư tưởng, học thuyết, hướng tầm nhìn ra thế giới, không ngừng học tập và nâng cao trình độ văn hóa, làm giàu trí tuệ cho bản thân để phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân.

Hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên cần học tâp, vận dụng, rèn luyện phong cách tư duy Hồ Chí Minh để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2.3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Qua chuyên đề này, chúng ta đã học tập ở Bác về tư tưởng, đạo đức, lối sống, tính độc lập về suy nghĩ, tự chủ bản thân, để hoà nhập nắm bắt một cách tinh thông chuyên nghiệp với môi trường mới, ý thức tự mày mò học hỏi. Nhưng việc chúng ta thực hiện được chưa đạt hiệu quả cao, bản thân chúng ta chưa nhiệt huyết nên tư duy sáng tạo chưa nhiều. Vì vậy, mỗi cá nhân chúng ta cần phải xem lại mình đã làm được những gì, để từ đó phát triển tư duy suy nghĩ làm sao cho công việc đạt hiệu quả một cách cao nhất.

- Chúng ta đã đang học và làm theo tư duy HCM, trên lý thuyết thì có, nhưng soi thực tiễn thì chưa đạt, sẽ tiếp tục thực hiện, anh em đồng lòng, mỗi cá nhân phải đoàn kết và ngày càng cố gắng vì sự phát triển của cơ quan.

- Vì vậy, mỗi chúng ta hãy làm tốt công việc của mình chính là sáng tạo. Mong rằng chúng ta tiếp tục thực hiện các chuyên đề để chúng ta học tập.

3- CHUYÊN ĐỀ: HC TP VÀ LÀM THEO TƯ TƯNG, ĐO ĐỨC, PHONG CÁCH H CHÍ MINH V CHNG SUY THOÁI TƯ TƯNG CHÍNH TR, ĐO ĐC, LI SNG, “T DIN BIN”, “T CHUYN HÓA” TRONG NI B.

3.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta lại phải chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diện biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ:

Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ đảng viên là sự suy thoái từ bên trong, là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực. Chủ thể của “tự diễn biến” là cán bộ, đảng viên bất kể ở vị trí nào. Vị trí của người cán bộ, đảng viên càng cao thì hậu quả tiêu cực của tự diễn biến càng lớn. Còn chủ thể của “tự chuyển hóa” vừa là cán bộ, đảng viên, vừa là tổ chức của chính những cán bộ, đảng viên đó. Tuy nhiên, sự xác định như vậy cũng chỉ mang tính tương đối. “Tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giống như mối quan hệ không thể phân biệt giữa cá nhân trong tổ chức mà cá nhân đó là thành viên. “Tự diễn biến” là quá trình thẩm thấu từng ngày, từng hoạt động của các chủ thể, còn “tự chuyển hóa” là đích đến, là hệ quả của “tự diễn biến” của các cá nhân, tổ chức.

* Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

- Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống tất yếu dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Quá trình này diễn ra nhanh chóng, đây chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc kết cấu với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

- Những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

- Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong con người cán bộ, đảng viên được biểu hiện ở chỗ: Cán bộ sẽ dần dần bị suy giảm về bản chất cách mạng, dần dần xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Đảng, xa rời hệ tư tưởng của giai cấp công nhân - Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, phương pháp, tác phong công tác, không còn khả năng tổ chức, tập hợp quần chúng quán triệt và thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không còn giữ được vai trò là “gốc của mọi công việc”, là “chiến sĩ tiên phong” của Đảng, cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến chất, sự chuyển hóa của cán bộ, đảng viên.

- Tác hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn biểu hiện ở chỗ: Từ những hạn chế, yếu kém của cán bộ, đảng viên sẽ làm cho nhân dân suy giảm và mất dần niềm tin vào cán bộ, đảng viên, từ đó mà dẫn đến suy giảm và mất dần niềm tin vào vai trò và sự lãnh đạo của Đảng, vai trò và sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xã hội, vào tính ưu việt của chế độ XHCN. Từ đó, nhân dân sẽ không tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không quyết tâm phấn đấu để thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3.2- Học tập tư tưởng HCM về chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diện biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ:

1. Tăng cường công tác giáo dục và tuyên truyền, xây dựng tinh thần chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước hết cần giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân thấy rõ chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân

2. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công...Đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật.

3. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và Nhà nước. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, các cơ quan không chỉ phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi tiêu cực, mà còn phải phát hiện những kẽ hở trong chính sách, pháp luật, cơ chế quản lý để giúp Trung ương hoàn thiện, từ đó hạn chế những hành vi tiêu cực; giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp tích cực chống tiêu cực.

4. Phát huy dân chủ, hoàn thiện cơ chế để huy động nhân dân tham gia phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền.

5. Tổ chức học tập, thảo luận, liên hệ và lựa chọn những việc làm theo Bác của tập thể và cá nhân cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đẩy mạnh tuyên truyền trong quần chúng nhân dân, vận động nhân dân tích cực học tập và làm theo Bác, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

3.3- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

- Nếu trong một cơ quan có hiện tượng ““tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sẽ Ảnh hưởng rất nhiều đến công việc như:

+ Làm cơ quan mất đoàn kết.

+ Xa rời Đảng, xa rời công việc, bê trễ, trì trệ, dẫn đến đi sai đường, lệch lạc về quan điểm, lối sống của mỗi cá nhân

+ Làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng, suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, đó là giặc nội xâm.

- Nếu trong cơ quan, phát hiện ra một người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ta cần nắm bắt tình hình xem biểu hiện đó đúng hay sai, cần có thời gian theo dõi, nhận diện, lắng nghe, sau đó phải phê bình. Phải chân thành, cởi mở, sẵn sàng chia sẻ, quan tâm đến đồng nghiệp, phân tích cho họ để họ tự soi, tự sửa khuyết điểm của mình với tinh thần chia sẻ, thương yêu.

- Tại cơ quan ta, mỗi người đều có những biểu hiện nhỏ, nhưng nếu không chỉnh đốn sẽ gây hậu quả khôn lường. Cái mắc đầu tiên là tinh thần tự phê bình phê bình còn kém, nể nang. Việc không chịu phấn đấu, vươn lên lên cũng là tự diễn biến

Chia sẻ