Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hưng Yên


SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN (Kỳ 7 - Phần 1)

Ngày đăng: 15/10/2018, Lượt xem: 40
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá XII về tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; Căn cứ kế hoạch số 33-KH/TU ngày 14/01/2018 của Thành ủy Hưng Yên về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2018; Được sự chỉ đạo của ban Chi ủy Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên, trong ba tháng 04;05;06/2018 toàn thể cán bộ viên chức Trung tâm tiếp tục tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh đến toàn thể cán bộ, viên chức bằng hình thức sinh hoạt chuyên đề và đã đạt được kết quả như sau:

 I- Tổng số chuyên đề đã thực hiện trong tháng 4,5,6 năm 2018: gồm 9 chuyên đề - cụ thể:

TT

Tên chuyên đề

Thời gian

thực hiện

Đơn vị

thực hiện

1

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.

11/4/2018

BDNCTĐ

2

Tính chuyên nghiệp của người cán bộ công đoàn.

17/4/2018

NN-TH

3

Kỹ năng phân công công việc hiệu quả của người cán bộ quản lý.

24/4/2018

QLĐT

4

Văn hoá Lãnh đạo - Quản lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh

15/5/2018

NN-TH

5

Tính chuyên nghiệp trong công tác tham mưu

23/5/2018

QLĐT

6

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần học tập nghị quyết của Đảng đối với Đảng viên

29/5/2018

BDNC

7

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương.

06/6/2018

NN-TH

8

Tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác huấn luyện và học tập

13/6/2018

QL ĐT

9

Phương pháp phòng chống cháy nổ hiệu quả.

26/6/2018

BDNC

1. Chuyên đề: Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng.

1.1. Vai trò của Đảng cộng sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng dựa trên cơ sở Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, nên được toàn thể nhân dân lao động và cả dân tộc thừa nhận và đi theo.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền, nhưng là quyền do nhân dân ủy nhiệm, nhân dân mới thực sự là chủ. Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân.

1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Xây dựng Đảng là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

Người chỉ rõ: Đảng sống trong xã hội, là một bộ phận hợp thành cơ cấu của xã hội. Tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên ở các cấp, giữ các chức vụ đều chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường, các quan hệ xã hội, cả cái tốt và cái xấu, cái tích cực, tiến bộ và cái tiêu cực, lạc hậu. Do đó, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên rèn luyện. Đảng phải thường xuyên chú ý đến việc chỉnh đốn Đảng.

* Nội dung công tác xây dựng Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng

- Xây dựng Đảng về tổ chức

- Xây dựng Đảng về đạo đức

1.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Công tác xây dựng Đảng tại cơ quan ta đã và đang làm rất tốt. Công tác cán bộ rất dân chủ. Đối với cơ quan ta, công tác Đảng và công tác chuyên môn chúng ta không quá rạch ròi bởi cơ quan ta có rất ít người.

- Bên cạnh đó còn có tồn tại đó là công tác phê bình và tự phê bình nhiều khi còn làm chiếu lệ, chưa thực sự thẳng thắn, nhận xét bên ngoài thì có nhưng không bao giờ phát biểu trong cuộc họp. Vì vậy, bản thân mỗi cán bộ viên chức phải tự nhận thức rằng tư tưởng mới là quan trọng nhất, tư tưởng đúng mới quyết định được hành động đúng.

2. Tính chuyên nghiệp của người cán bộ công đoàn.

2.1. Vai trò của tổ chức công đoàn:

"Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa."

2.2. Tính chuyên nghiệp của người cán bộ Công đoàn:

Để trở thành một người cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, cần phải thực hiện tốt các kỹ năng sau đây:

      - Kỹ năng phân tích, đánh giá, tổng hợp.

      - Kỹ năng tổ chức phong trào.

      - Kỹ năng tư vấn, hướng dẫn, diễn đạt, thuyết trình.

      - Kỹ năng giao tiếp.

      - Kỹ năng thương lượng, đối thoại.

      - Kỹ năng làm việc nhóm.

      - Kỹ năng kiểm tra, giám sát.

2.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

Trong tình hình hội nhập ngày càng khó khăn, người cán bộ công đoàn cần có kỹ năng vận động quần chúng, đặc biệt am hiểu pháp luật, làm việc phải có cái tâm, nói phải đi đôi với làm.

Người cán bộ công đoàn cần trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ của mình, luôn gần gũi với công đoàn viên, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của công đoàn viên, tạo thành trung tâm của sự đoàn kết.

BCHCĐ của Trung tâm đã chuyên nghiệp, tổ chức được rất nhiều các phong trào và đẩy các phong trào đi lên. Mong rằng chúng ta tích cực hơn trong phong trào thể dục thể thao, tổ chức cho các công đoàn viên đi tham quan học hỏi tại các đơn vị bạn.

3. Chuyên đề: Kỹ năng phân công công việc hiệu quả của người cán bộ quản lý.

3.1. Vai trò quan trọng trong phân công công việc.

Trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của Đảng, cơ quan Nhà nước,hay các tổ chức chính trị xã hội sẽ phát sinh rất nhiều vấn đề, công việc phức tạp khiến nhà lãnh đạo, quản lý khó lòng mà hoàn thành hết được một cách trọn vẹn nhất. Do đó, vấn đề đặt ra là các nhà lãnh đạo, quản lý, với vai trò là người đứng đầu cơ quan, tổ chức hay phụ trách một bộ phận phải biết phân công công việc, sắp xếp và chia nhỏ chúng để mạnh dạn giao việc cho cán bộviên chức của mình tùy vào năng lực của từng người. Từ đó, mọi người sẽ cùng nhau thực hiện nhiệm vụ và hoàn thành chúng một cách an toàn, hiệu quả và nhanh chóng.

3.2. Các kỹ năng phân công việc hiệu quả:

- Thoải mái khi phân công công việc

- Xác định kết quả cần đạt được ở mỗi nhiệm vụ

- Phân công đúng người, đúng việc

- Truyền đạt nhiệm vụ cụ thể cho nhân viên

- Theo dõi tiến trình thực hiện

- Cho phép nhân viên làm việc theo cách riêng của họ

- Khen ngợi khi nhân viên làm tốt.

3.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

Theo tôi việc phân công công việc của lãnh đạo cơ quan ta nói chung là đã hợp lý, biết nhìn người giao việc, những đồng chí có năng lực thì giao nhiều việc, khó, còn lại tuỳ theo tình hình để triển khai phân công nhiệm vụ cho phù hợp, và hiệu quả công việc tại

          Đối với cán bộ quản lý các phòng đôi khi chưa truyền đạt nhiệm vụ cho nhân viên một cách cụ thể, dẫn đến nhân viên không hiểu hết nội dung công việc cần thực hiện, dẫn đến công việc chưa đạt hiệu quả cao; khi phân công công việc xong cho nhân viên thì việc theo dõi, kiểm tra, giám sát chưa được thường xuyên, dẫn đến đôi khi công việc bị chậm muộn, chưa đạt hiệu quả. Nếu người lãnh đạo có kỹ năng tư duy mà chọn đúng người đúng việc thì việc kiểm tra giám sát không có gì là nặng nề. Vì vậy, cán bộ quản lý cần học hỏi rất nhiều, các đồng chí đã thực hiện tốt công việc được phân công, nhưng các kỹ năng thì chưa hiệu quả.

4. Chuyên đề: Văn hoá Lãnh đạo - Quản lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh

4.1. Văn hóa lãnh đạo- quản lý trong tư tưởng Hồ Chí Minh

          Người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết tập trung xử lý quyền lực một cách có văn hoá. Quyền lực tạo nên sức mạnh để giữ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, đó là mặt tích cực, mặt “văn hoá” của quyền lực. Nhưng mặt khác, quyền lực có thể làm tha hoá người nắm quyền, dẫn tới cậy quyền, lợi dụng quyền lực, lạm dụng quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực, tham quyền cố vị, đó là những hành vi phản văn hoá, phi văn hoá.

          - Thông thường có hai cách lãnh đạo:

          + Lãnh đạo có văn hoá là không dùng quyền lực, mà bằng thuyết phục, cảm hoá thông qua trí tuệ và cái tâm, cái đức. Không dùng quyền lực mà có quyền uy

          - Lãnh đạo phi văn hoá là dựa vào quyền lực. Trường hợp này rơi vào những người thiếu tâm, dưới tầm. Người ta đã nói tới quyền lực trong tay một người kém đức, kém tài thì còn tệ hại, nguy hiểm hơn thanh gươm trong tay một tên đao phủ. Bác Hồ đã dạy rằng, “không phải cứ viết lên trán chữ “cộng sản” là được quần chúng yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.
          - Có hai mặt của quyền lực:

+ Quyền lực tạo nên sức mạnh để giữ thành quả cách mạng, xây dựng chế độ mới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - đó là mặt tích cực, mặt “văn hoá” của quyền lực - cả quyền lực của Đảng, Nhà nước và từng cán bộ, đảng viên.

+ Quyền lực làm tha hoá người nắm quyền, dẫn tới cậy quyền, lợi dụng quyền lực, lạm dụng quyền lực, say mê quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực, tham quyền cố vị. Đó là những hành vi phản văn hoá, phi văn hoá.

4.2. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

           - Lãnh đạo quản lý có văn hóa là không dùng quyền lực mà vẫn có quyền uy, có tâm, có đạo đức của người lãnh đạo,  biết xử lý công việc một cách có văn hóa, không lợi dụng quyền lực, biết làm dịu những căng thẳng không cần thiết, biết thúc đẩy quá trình phát triển của một tổ chức. Đối với cơ quan ta, lãnh đạo cơ bản có được sự tín nhiệm, tin tưởng của nhân viên, dân chủ, có lý, có tình, gần dân, không lạm dụng quyền lực, tranh giành, cậy quyền thế, quan liêu.

          - Để công việc lãnh đạo, chỉ đạo trong cơ quan ta đạt hiệu quả, trước tiên mỗi cá nhân chúng ta phải lãnh đạo được chính bản thân chúng ta, từng người phải chịu trách nhiệm trước việc mình được giao./. (Còn nữa)