SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN Kỳ 7 (Phần 2)
Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hưng Yên


SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN Kỳ 7 (Phần 2)

02/08/2018
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá XII về tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; Căn cứ kế hoạch số 33-KH/TU ngày 14/01/2018 của Thành ủy Hưng Yên về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2018; Được sự chỉ đạo của ban Chi ủy Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên, trong ba tháng 04;05;06/2018 toàn thể cán bộ viên chức Trung tâm tiếp tục tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh đến toàn thể cán bộ, viên chức bằng hình thức sinh hoạt chuyên đề và đã đạt được kết quả như sau:

5. Chuyên đề: Tính chuyên nghiệp trong công tác tham mưu

5.1. Vai trò của công tác tham mưu

- Công tác tham mưu có vị trí đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo, quản lý và điều hành công việc của tất cả các cơ quan hành chính nhà nước.
Trong hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, thể chế, chế độ chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và giải quyết các vấn đề quốc gia đại sự đều cần có sự tham mưu, hiến kế của các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, đặc biệt là sự tham mưu hiến kế của người thày vĩ đại là nhân dân. Nói cho cùng, không thể không có tham mưu. Đồng thời, hết sức cần có một chọn lọc tham mưu theo hai tiêu chuẩn: đủ kiến thức, đủ trung thực”.

Trong việc thực thi nhiệm vụ đối với công chức, viên chức có thể phân thành hai loại tham mưu: tham mưu sự vụ và tham mưu chiến lược.

Tham mưu sự vụ là tham mưu giải quyết các công việc hàng ngày, giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khuôn khổ các chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước.

Tham mưu chiến lược là tham mưu phát triển tổ chức, tham mưu để đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của cơ quan, tổ chức ngày một chất lượng hơn, tham mưu để xây dựng chính sách và pháp luật ngày một tốt hơn, đáp ứng yêu cầu và mong muốn ngày càng tăng của người dân.

5.2. Những giải  pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác tham mưu.

Một là, tham mưu phải bám sát thực tế, phân tích thực trạng các hoạt động để triển khai thực hiện các chức năng, nhiệm vụ; chỉ ra được các ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân của những ưu điểm, khuyết điểm và các giải pháp khắc phục.

Hai là, tham mưu phải trung thực, khách quan để đảm bảo cho các phán quyết, kết luận và quyết định của lãnh đạo chính xác.

Ba là, tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo phải đảm bảo đúng pháp luật, phải căn cứ vào các luận cứ khoa học đầy đủ, không chủ quan, duy ý chí.

Bốn là, chất lượng tham mưu phải gắn liền với trách nhiệm cá nhân, đòi hỏi người tham mưu phải cam kết trước lãnh đạo về tính chính xác của các vấn đề do mình tham mưu, đề xuất.

Năm là, để tham mưu, đề xuất có chất lượng, người làm công tác tham mưu cần phải rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, trung thực, thẳng thắn, nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ…

5.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

Một người thủ trưởng không thể đi sâu, đi sát mọi việc được, cần có một người tham mưu trung thực, chuẩn mực. Công tác tham mưu tốt thủ trưởng nhàn, tham mưu dở thủ trưởng vất vả.

Trong công tác tham mưu phải  trung thực, thật thà, khách quan, không chồng chéo ý tưởng, bám sát thực tế, đảm bảo tính hiệu quả của ý tưởng, rút ngắn thời gian đưa ý tưởng vào thực hiện. Người tham mưu cần có 2 tố chất cơ bản: đủ kiến thức và đủ dũng cảm

Công tác tham mưu của Trung tâm còn nhiều hạn chế, ưu điểm ít, tồn tại nhiều. Việc tham mưu tầm chiến lược, có định hướng tốt thì ít đồng chí làm được. Muốn để công tác tham mưu đạt hiệu quả, trước hết ta nên thay đổi nhận thức, kiến thức, lòng dũng cảm để thay đổi lề lối làm việc. Từng phòng từng đồng chí phải đưa ra kế sách cho phòng mình, người được tham mưu cần phải sáng suốt, minh mẫn, mỗi chúng ta phải nhận thức việc cơ quan cũng là việc của mình thì mới tham mưu đúng được.

6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần học tập nghị quyết của Đảng đối với Đảng viên

6.1. Vì sao phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đề cao việc học tập lý luận, chính trị, học tập chủ nghĩa Mác – Lê nin, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Người thường dẫn lời Lê-nin “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, mà đối với Đảng cộng sản Việt Nam “Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhắc nhở: "Mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm, mọi nghị quyết đều do đảng viên chấp hành...”. Vì vậy, việc học tập lý luận chính trị, nghị quyết của Đảng là trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên; là khâu đầu tiên và rất quan trọng nhằm tạo ra sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, là tiền đề vững chắc đảm bảo cho sự thành công trong tổ chức thực hiện.

6.2. Các biện pháp nâng cao ý thức trách nhiệm trong học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng:

          Thứ nhất, phải thấm nhuần tư tưởng của Bác về học tập lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác – Lê nin để vận dụng vào việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng.

          Thứ hai, cán bộ, đảng viên nhất là  “cán bộ cốt cán” cần nhận thức đúng đắn tầm quan trọng về nghị quyết của Đảng để có thái độ học tập, quán triệt nghiêm túc và phương pháp học tập sáng tạo, chủ động tìm tòi suy nghĩ; xác định rõ động cơ học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

          Thứ ba, đồng thời với việc học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cán bộ, đảng viên còn phải học tập kinh nghiệm của nhân dân, phải tổng kết phong trào của quần chúng để phát triển thành lý luận và xây dựng nghị quyết của Đảng.

          Thứ tư, theo quy định của Bộ Chính trị, các cấp ủy, tổ chức Đảng, trực tiếp là người đứng đầu, chịu trách nhiệm chỉ đạo, chủ trì việc tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức Đảng; chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và hằng năm đánh giá kết quả thực hiện của địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

6.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

Việc học tập nghị quyết của ta chưa tốt, thiếu tập trung, đôi lúc còn không ghi chép, điều này một phần nhỏ là tại người tuyên truyền nghị quyết chưa có phương pháp truyền đạt thu hút, chỉ mang tính hình thức nhiều hơn. Các bài thu hoạch hầu hết là đi sao chép, chỉ là hình thức.

Nguyên nhân chủ quan: ý thức của Đảng viên, việc đi học chỉ là hình thức;

Nguyên nhân khách quan: những điều giảng giải toàn là hình thức và nội dung cũ, không có những vấn đề thiết thực; tuyên truyền viên cấp trên chưa có phương pháp mới, không giảng giải rõ, chỉ đọc lại nghị quyết.

Chúng ta cần tiếp tục học tập về các nghị quyết, phải biết hết nhưng cần hiểu sâu về lĩnh vực của mình.Ta vẫn phải tuân thủ hình thức học nghị quyết của Đảng, nhưng nên tham mưu cho cấp trên cần bổ dọc nội dung giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng.

7. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương.

7.1. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách nêu gương:

  Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vai trò, nội dung của phong cách nêu gương. Nội dung phong cách nên gương thể hiện rõ tinh thần “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, “làm mực thước cho người ta bắt chước” trong mỗi hành động việc làm của cán bộ, đảng viên.

Hai là, luôn nắm vững và thực hiện tốt nguyên tắc, phương pháp về phong cách nêu gương.

Ba là, nỗ lực phấn đấu, nâng cao hiệu quả rèn luyện về sự nêu gương.

7.2. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

          Tại cơ quan ta vẫn còn tồn tại ở một số đồng chí về nhận thức tư tưởng, một số đồng chí chưa làm việc bằng cái tâm nên công việc còn gặp sự cố, hiệu quả công việc chưa cao.

          Để công tác nêu gương được tốt, trước hết mỗi người chúng ta phải là một tấm gương, phải có tính tự giác; chúng ta phải tư phê bình và phê bình như rửa mặt hàng ngày, không dối trá, lừa lọc, phải khoan dụng độ lượng; cán bộ đảng viên phải là người gương mẫu trước tiên, phải gương mẫu trong công việc từ nhỏ đến lớn về mọi mặt, phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; đừng nói lý thuyết, xã giao phải thực tế xem làm như thế nào là tốt nhất . Nói đúng, nói thật lòng mình, có chân thành thì mới nêu gương được. Chúng ta phải nâng cao ý thức tự giác, tự giáo dục, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Người cán bộ phải nêu gương theo 4 tiêu chí

          + Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, công tư vẹn toàn

          + Kết quả rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống

          + Tự phê bình và phê bình

          + Ý thức tổ chức, đoàn kết nội bộ.

8. Tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác huấn luyện.

8.1. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao chúng ta lại phải huấn luyện:

 “Phải huấn và luyện. Huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc”. Hồ Chí Minh coi công tác huấn luyện cán bộ là công việc nền tảng của Đảng: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng.Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc.Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, có vốn mới làm ra lãi. Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn.

8.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác huấn luyện

          “Phải lấy người ở cấp dưới lên huấn luyện rồi trở lại cấp dưới để họ huấn luyện cho cấp dưới nữa. Trung ương huấn luyện cán bộ cho các khu, các tỉnh, cán bộ ở khu và các tỉnh phải huấn luyện cho cán bộ huyện, xã, như thế đỡ tốn công, tốn thì giờ và cán bộ huấn luyện cho cấp dưới gần mình lại sát hơn”.

          Người yêu cầu những người lãnh đạo cũng phải tham gia vào công tác này, bởi người lãnh đạo thường được đào tạo quy củ lại có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên khả năng kết hợp giữa lý luận và thực tiễn thường rất tốt. “Người huấn luyện của đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt: tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”, muốn thế, “người huấn luyện phải học thêm mãi”, vì nếu người huấn luyện không tích cực học tập, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ thì “năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể”

 * Nội dung huấn luyện:

a) Lý luận: Phải dạy lý luận Mác – Lênin cho mọi người.

b) Công tác: Người chỉ rõ "phải thực hành khẩu hiệu: làm việc gì học việc nấy".

c) Vǎn hoá: Theo Hồ Chí Minh, với những cán bộ còn kém văn hoá thì việc đào tạo huấn luyện văn hoá là khâu trọng yếu.  

* Phương pháp huấn luyện.

a) Cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều.

b) Huấn luyện từ dưới lên trên.

c) Phải gắn liền lý luận với công tác thực tế.

d) Huấn luyện phải chú trọng việc cải tạo tư tưởng.

8.3. Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

Công tác huấn luyện tại cơ quan ta là tốt, như đâu đó một số cá nhân còn chưa thật sự rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ, chưa có sự tiến bộ về nghề nghiệp, không chịu nghiên cứu, tư tưởng nhận thức còn chưa thống suốt, có đồng chí còn có sức ì lớn cho nên chưa thực sự cố gắng. Trong công tác huấn luyện mỗi người chỉ đạt được một điểm nào đó. Vì vậy, mỗi người phải tự rèn luyện tư tưởng cho bản thân, không được khó chịu với những ý kiến đóng góp, chúng ta phải thay đổi về tư tưởng và nhận thức, có như vậy công việc mới đạt hiệu quả cao.

Mỗi người chúng ta nên chọn một cái tốt để làm.Cơ quan ta thường xuyên huấn luyện từ việc nhỏ nhất. Tư tưởng của chúng ta là tư tưởng tìm kiếm công ăn việc làm. Đảng ta đã huấn luyện tốt nhưng người được huấn luyện chưa tốt, cái quan trọng là ý thức của con người, làm gì phải có cái tâm, muốn giữ được nghiệp phải giỏi về nghề. Mỗi chúng ta phải tự động não làm một việc gì đó cho Trung tâm, phải tạo nhóm sinh hoạt chuyên môn tự phát, cố gắng giành nhiều thời gian cho chuyên môn.

9. Chuyên đề: Phương pháp phòng chống cháy nổ hiệu quả.

9.1. Tác hại của việc cháy, nổ:

Hỏa hoạn là mối “họa” lớn có từ lâu trong lịch sử nhân loại, gây nên rất nhiều thiệt hại nghiêm trọng về tài sản và tính mạng của nhân dân toàn xã hội, chính vì thế mà cha ông ta đã có câu “Giặc phá không bằng nhà cháy” để nói lên tác hại ghê gớm của nạn cháy.

9.2. Biện pháp phòng cháy chữa cháy ở nhà, nơi làm việc, khu vực sản xuất

- Mỗi gia đình nên có dự kiến các tình huống thoát nạn khi có cháy xảy ra. Trang bị dụng cụ trữ nước, xô thùng để vừa phục vụ sinh hoạt hàng ngày, vừa phục vụ chữa cháy, trang bị bình chữa cháy CO2, MFZ…Và mọi người trong gia đình phải học tập để sử dụng các dụng cụ chữa cháy được trang bị.

- Không để nhiều đồ dùng, hàng hoá dễ cháy ở nơi đun nấu. Không dự trữ xăng, dầu, khí đốt và các chất lỏng dễ cháy trong nhà ở, trường hợp cần phải để dự trữ thì chỉ dự trữ với số lượng ít nhất và đảm bảo các biện pháp an toàn.

- Bố trí nơi thờ cúng hợp lý, đèn, hương, nến phải đặt chắc chắn trên các vật không cháy, cách xa vật dễ cháy.

- Ôtô, xe máy và các phương tiện dụng cụ có xăng, dầu, chất lỏng… dễ cháy để trong nhà ở, phải cách xa bếp đun nấu, nguồn sinh lửa, sinh nhiệt.

- Phải lắp thiết bị tự ngắt (Aptomat) cho hệ thống điện chung toàn nhà, từng tầng và từng thiết bị tiêu thụ điện công suất lớn, khắc phục các hư hỏng có nguy cơ dẫn đến chạm chập, cháy nổ.

- Khi sử dụng bếp điện, lò sấy phải có người trông coi, không để trẻ nhỏ, người già mắt kém, sử dụng các thiết bị điện.

- Nơi đun nấu phải có vách ngăn bằng vật liệu không cháy. Nếu dùng bếp gas phải có các biện pháp an toàn, khi đun nấu xong phải tắt bếp và đóng van xả gas, khi đun phải có người trông coi.

- Trước khi đi ra khỏi nhà và trước khi đi ngủ phải kiểm tra nơi đun nấu, nơi thờ cúng, tắt các thiết bị điện không cần thiết.

- Không lắp lồng sắt, lưới sắt ở lan can nhà cao tầng. Trường hợp đã lắp thì phải có cửa thoát nạn theo quy định, chốt trong và không được khoá. Chuẩn bị sẵn thang, thang dây để thoát nạn khi cháy xảy ra.

- Thực hiện việc bảo quản, sắp xếp đồ dùng trong gia đình ngăn lắp, đúng quy định, không lấn chiếm lối thoát nạn. Chuẩn bị sẵn dụng cụ phá dỡ để tạo lối thoát nạn khi cần thiết.

- Khi xảy ra cháy, báo động cho mọi người xung quanh biết, bằng cách hô to, đánh kẻng báo động…Nhanh chóng tìm mọi cách ngắt nguồn điện nơi xảy ra cháy, sử dụng các phương tiện chữa cháy tại chỗ được trang bị để dập tắt đám cháy, ngăn chặn chống cháy lan.

9.3. Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

Để công tác phòng cháy chữa cháy được hiệu quả cao, trước hết phải tìm nguyên nhân cháy do đâu, mỗi cái có một biện pháp khác nhau: ví dụ cháy do xăng dầu phải dùng cát dập lửa, cháy do ga thì không được bật điện, Phải làm sao hạn chế  nguồn ô xi cho ngọn cháy, phải tùy cơ ứng biến, không phải đám cháy nào cũng giống đám cháy nào. Nếu một nhà cháy thì chỉ dập cầu giao của nhà đó chứ không phải dập toàn chung cư. Chúng ta không nên để giấy tờ, vật liệu dễ cháy gần ổ điện, ra khỏi phòng phải tắt điện, dập cầu dao.. Khi xảy ra hỏa hoạn cần có khăn ướt bịt mũi, chăn ướt trùm để chạy ra khỏi đám cháy, có khi phải bò ra để đỡ bị ngạt khói vì thường là ngọn lửa bùng lên cao.

Biện pháp tối ưu nhất là nhận thức của con người về cháy nổ, làm nhà phải có lối thoát. Đối với cơ quan, từng đồng chí cần có ý thức hơn trong việc phòng cháy chữa cháy, mỗi người tự rèn cho mình thói quen dập cầu dao điện trước khi ra về. Đề nghị các phòng phải có các xô nước to để trong phòng , chuẩn bị các vòi dẫn dài…Cần có cầu dao tổng của cả cơ quan.

Trên đây là báo cáo tổng kết công tác chuyên đề tháng 4,5,6 năm 2018 của bộ phận Đào tạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên.

Chia sẻ