Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Hưng Yên


Tham Luận

Ngày đăng: 06/03/2018, Lượt xem: 1588
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG TÂM GDTX VÀ CƠ SỞ ĐÀO TẠO KHÔNG CHÍNH QUY TRÊN CƠ SỞ XÂY DỰNG MỘT XÃ HỘI HỌC TẬP VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP PHÙ HỢP.

Thạc sĩ Nguyễn Chí Dũng - Giám đốc TTGDTX tỉnh Hưng Yên

1- Có thể nói Hồ Chủ Tịch là người khai sinh ra nền giáo dục cách mạng Việt Nam.Trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay, chưa có người đứng đầu Nhà nước nào lại quan tâm đến giáo dục như Người. Với tư tưởng “ai cũng được học hành”, “một dân tộc dốt là dân tộc yếu” của Bác, nhân dân ta từ một nước 95% dân số mù chữ đã trở thành nột nước có 95% dân số biết chữ. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ đối với học sinh: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”, lớp lớp thanh thiếu niên các thế hệ đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ về đời sống và chiến tranh, ra sức học tập trở thành những người có đức có tài. Giáo dục của nước nhà sau Cách mạng tháng Tám và trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Pháp và Mĩ đã được toàn dân tin tưởng, tự hào, được bạn bè gần xa ca ngợi, được tôn vinh là bông hoa thơm của chế độ mới. Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang quan tâm mạnh mẽ tới sự nghiệp giáo dục, chưa bao giờ nhân dân ta cũng như mỗi gia đình Việt Namđều chăm lo, đầu tư cho con em học hành như bây giờ. Các kỳ tuyển sinh đại học vừa qua nhiều thủ khoa của các trường đại học lại là học sinh của những gia đình nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, các em đã tự học tự nghiên cứu là chủ yếu. Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng không phải cứ đầu tư tăng lên, không phải cứ có nhiều tiền là học giỏi mà phải chính là nhờ sự nỗ lực học tập của học sinh.

2 – Có thể nói học tập suốt đời, học tập thường xuyên, học tập cho mọi người là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học. Đây cũng là nội dung cốt lõi của khái niệm xã hội học tập mà Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng trong bối cảnh thế giới có những thay đổi to lớn và nhanh chóng trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ.

            Tư tưởng đó, nội dung đó, thể hiện trong văn kiện đại hội IX của Đảng khi nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy “, thực hiện “ Giáo dục cho mọi người” “Giáo dục cả nước trở thành một xã hội học tập”và được văn kiện Đại hội X nêu rõ thêm: “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống giáo dục suốt đời, đào tạo liên liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người với những hình thức học tập linh hoạt, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục”

            Có thể nói xã hội học tập là một xu thế mới trong quá trình phát triển của nhân loại ở thời kỳ hậu công nghiệp; đó cũng là đòi hỏi của yêu cầu phát triển kinh tế, của tiến bộ khoa học và công nghệ và cũng là đòi hỏi của sự phát triển con người ở thời đại mới.

            Mô hình tổng quát của xã hội học tập bao gồm:

- Hệ thống giáo dục ban đầu với các ngành khoa học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến giáo dục phổ thông, giáo dục cao đẳng và đại học . Hệ thống này còn được gọi là hệ thống giáo dục chính quy.

- Hệ thống giáo dục tiếp tục là giáo dục ngoài xã hội gồm những trường lớp, những tổ chức học tập theo phương thức giáo dục không chính quy(tại chức(VHVL),chuyên tu, từ xa…) hoặc phi chính quy(cần gì học nấy).

            Nền giáo dục trong xã hội học tập hướng vào việc xây dựng cho con người năng lực đón nhận, xử lý, sử dụng, truyền bá vv…thông tin để xã hội tiến kịp sự phát triển của tri thức nhân loại. Do vậy, nền giáo dục phải tập trung vào sự giáo dục con người trên cơ sở tự chủ của mỗi người, là cho con người phát huy cao độ năng lực sáng tạo, năng động về mọi phương diện.

            Việc đề cao phương thức học tập suốt đời phải đi đôi với đề cao năng lực tự học của mỗi người. Ngày nay trong điều kiện phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ, không ai có thể coi kiến thức của giáo dục ban đầu tức giáo dục từ nhà trẻ đến đại học và trên đại học lại đủ cho cả đời người, vì vậy phải tiếp tục học tập, học không bao giờ ngừng, phải thay đổi tư duy giáo dục phù hợp với xu thế chung, xem Giáo dục đào tạo là yếu tố quyết định tương lai của mỗi dân tộc, sự phát triển của mỗi quốc gia.

            3- Xã hội học tập là một phạm trù mới mẻ, chưa có tiền lệ trong lịch sử giáo dục nước ta. Trên thế giới, phạm trù xã hội học tập xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX khi UNESCO nêu tư tưởng “học suốt đời” trong đó nhấn mạnh bốn mục đích của giáo dục:” Học để biết, để làm, học để chung sống, học để làm người”. đặc biệt là việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng, nhất là trong đào tạo đại học (kể cả hình thức đào tạo chính quy và không chính quy). Một số nước trên thế giới đã hướng cải cách giáo dục theo tư tưởng xã hội học tập. Vì thế người Nhật Bản quan niệm: Nền giáo dục của họ là học để sáng tạp suốt đời.

            Có nhiều cách tiếp cận  khái niệm xã hội học tập. Về bản chất của một xã hội học tập có thể hiểu:  Xã hội học tập là một xã hội trong đó mọi người đều tự giác học tập thường xuyên, học tập và sáng tạo suốt đời trong một hệ thống giáo dục mở, liên tục liên thông giữa các ngành học, bậc học và loại hình học tập với các cơ chế, chính sách hỗ trợ tốt nhất của Nhà nước cùng với trách nhiệm của các tổ chức chính trị, kinh tế - xã hội và mỗi người dân. Từ trẻ tới già ai cũng cần học, học theo nhu cầu cơ bản và sự phát triển của xã hội ;không phân biệt tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, trình độ…không chỉ đặt ra việc học cho người chưa được học hoặc ít được học, mà những người đã được đào tạo, có bằng cấp cũng cần tiếp tục học, vì bằng cấp chỉ là kết quả đào tạo ban đầu. Sự phát triển kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ rất nhanh, không cho phép chỉ học một lần là đủ. Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng Mác – Xit, Đảng cách mạng và khoa học lại càng đòi hỏi cán bộ, đảng viên gương mẫu, đi đầu trong học tập, bởi vì một Đảng cách mạng chân chính phải nắm lấy ngọn cờ khoa học để làm cách mạng , có trí tuệ thì mới có cách mạng và mới có thể thành công trong giai đoạn công  nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập quốc tế. Trong một xã hội học tập phải coi tự học, tự nghiên cứu là phương pháp học tập chủ yếu và quan trọng nhất. Biết tự học mới là thực học. Thày giáo biết hướng dẫn cho học sinh tự học, tự nghiên cứu, biết dạy học sinh khả năng tự tìm thấy kiến thức mới sẽ là thực dạy nhất là trong hệ đào tạo đại học KCQ, tự học tốt sẽ là tiền đề cho các sáng tạo sau này của từng người và toàn bộ xã hội.

            Mặt khác, phải gắn học với sáng tạo bởi vì cần xác định cho rõ học để làm gì? tiếp nhận kiến thức đã có của loài người chỉ mới là giai đoạn đầu của việc học, còn từ tiếp nhận rồi đi đến sáng tạo mới trở thành mục đích quan trọng và cuối cùng của việc học, mới thúc đẩy xã hội loài người phát triển. Lịch sử phát triển của nhân loại từ mông muội đến văn minh như ngày nay là lịch sử của việc tiếp thu các giá trị mới của con người. Chúng ta phải nhấn mạnh hai yếu tố: vai trò tự giác của mỗi người và vai trò to lớn của nhà nước trong một xã hội học tập bởi vì việc học phải được cá thể hoá, phải là của từng người, không ai học thay, học giúp cho ai được. Nhưng  việc học không chỉ là nhu cầu riêng của mỗi người mà còn là đòi hỏi của một  xã hội phát triển. Trong thời đại hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá, sự cạnh tranh là vô cùng gay gắt, hàm lượng trí tuệ và hàm lượng công nghệ kết tinh vào sản phẩm càng nhiều thì sản phẩm đó có tính năng càng tốt hơn. Dân tộc nào có trí tuệ cao hơn sẽ vượt lên trên và ngựơc lại. Thách thức hay cơ hội trong thời đại mới có rất nhiều, nhưng cách thức lớn nhất là trí tuệ và bản lĩnh. Thực chất của cuộc cạnh tranh ngày nay là cạnh tranh trí tuệ. Khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc hiện nay thực chất là khoảng cách về trí tuệ. Việc nâng cao trình độ dân trí, trình độ nhân lực, trình độ khoa học – công nghệ và trình độ sáng tạo là vấn đề chiến lược của một quốc gia. Phải đặt việc học của mỗi người trong chiến lược chung đó. Vì vậy muốn xây dựng xã hội học tập thành công nhất định phải có bước đi, phải đặt ra mục tiêu cho từng giai đoạn và phải có cơ chế chính sách đủ mạnh, có tổ chức, quản lý, chỉ đạo chặt chẽ của Nhà nước, sự phối hợp hành động của các lực lượng xã hội trong đó có giáo dục thường xuyên.

            4- Như chúng ta đều biết, bản chất của giáo dục KCQ(từ xa, VHVL, chuyên tu…)là tự học. Người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Mà muốn tự đào tạo thành công thì phải tự giác học tập, khổ công học tập, phải biết cách học, biết cách tự học, tiến tới có các kỹ năng tự học.

            Trải qua gần 50 năm hình thành và phát triển đến nay hệ đào tạo đại học vừa làm vừa học (tại chức) có quy mô tăng vượt bậc, địa bàn đào tạo được mở rộng đến hầu khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, đóng góp một phần không nhỏ vào công tác đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển kinh tế - xã hội qua các giai đoạn phát triển của đất nước, tạo cơ hội cho người lao động và mọi tầng lớp nhân dân tham gia học tập nâng cao kiến thức chuyên môn, nghề nghiệp, trình độ học vấn. Với ưu thế là đào tạo tại chỗ, tổ chức đào tạo nguồn nhân lực tại địa phương cho mọi thành phần kinh tế, hệ đào tạo này vẫn là sự lựa chọn ưu tiên của rất nhiều địa phương. Theo số liệu thống kê báo cáo về Bộ Giáo dục – đào tạo đầu năm 2007, số sinh viên tham gia đào tạo không chính quy, chủ yếu ở trình độ đại học chiếm 89,29%.

            Mục tiêu chính của đào tạo đại học vừa làm vừa học (VLVH) tại địa phương là đào tạo nguồn nhân lực trình độ đại học có năng lực nhận thức tốt cả về lý luận và thực tiễn để cung ứng, bổ sung kịp thời cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội địa phương, cụ thể là nâng cao kiến thức, kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn ở trình độ đại học cho những người đang tham gia lao động sản xuất ở mọi lĩnh vực, cho cán bộ, công chức, viên chức hành chính sự nghiệp, giúp họ có thể hoàn thành tốt hơn công việc đang làm, hoặc biết thêm một ngành nghề khác để chuyển đổi công việc khi cần thiết, mở rộng cánh cửa học đại học cho mọi tầng lớp.

            Có thể nói, việc mở rộng quy mô đào tạo VLVH tại địa phương là thể hiện cái nhìn toàn diện, đúng đắn theo quan điểm xây dựng một xã hội học tập, theo nhu cầu của xã hội, nhu cầu cụ thể của từng đại phương. Nói như vậy không có nghĩa là mở rộng tất cả các cánh cửa vô điều kiện, nhất là cánh cửa vào học đại học. Do đó việc xây dựng và phát triển bền vững mô hình hoạt động của các Trung tâm GDTX và cơ sở đào tạo không chính quy (KCQ) trong cả nước là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp phát triển đào tạo đại học hệ VLVH.

            Hiện nay, trong đào tạo đại học VLVH tại địa phương, luôn xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa việc mở rộng quy mô với việc đảm bảo chất lượng đào tạo mà nguyên nhân chủ yếu là: Sự phát triển quá nhanh, “quá nóng”  của đào tạo đại học VLVH; Sự thiếu quan tâm và đầu tư thoả đáng của chính quyền địa phương, của các cơ sở đào tạo và của các trường đại học liên kết đào tạo. Bên cạnh đó, là cách nhìn nhận,quan niệm chưa đúng về hệ đào tạo này từ chính những người trong cuộc ( cơ sở đào tạo đại học, cơ sở liên kết đào tạo địa phương và đối tượng tham gia đào tạo). Chính vì thế dẫn tới chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp, bằng cấp không tương xứng với trình độ đào tạo - nguồn nhân lực đào tạo ra chưa đảm bảo chất lượng, không đáp ứng kịp thời yêu cầu kinh tế - xã hội tại địa phương trong thời kỳ hội nhập – không đáp ứng sự thay đổi nhanh mạnh của thị trường trong nước và quốc tế, chưa nhận được sự tin tưởng của người sử dụng nhân lực và của cộng đồng trong xã hội  - đây là vấn đề đang được xã hội rất quan tâm, là suy nghĩ trăn trở của các Trung tâm GDTX trong đó có Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên. Trong bài viết này, chúng tôi xin có một vài ý kiến xoay quanh vấn đề xây dựng và phát triển bền vững mô hình hoạt động của các Trung tâm GDTX và cơ sở đào tạo KCQ trên cơ sở xây dựng một xã hội học tập và phương pháp học tập phù hợp.  

            Sở dĩ đặt ra vấn đề này vì hầu hết đối tượng tham gia đào tạo VLVH tại địa phương nói riêng và hệ đào tạo không chính quy(KCQ) nói chung, người học chủ yếu là người lớn, với độ tuổi khác nhau, đang làm việc, công tác…người học chỉ dành ra một phần trong quỹ thời gian của mình để tập trung học tập với nhiều phương thức đa dạng(học ngoài giờ, học định kỳ hàng tháng, học buổi tối…) vừa làm việc vừa tranh thủ học trong khi đó các yêu cầu như : Tiêu chuẩn dự tuyển, tuyển sinh, chương trình đầo tạo, giảng viên, quản lý đào tạo, học tập, thực tập, khối lượng kiến thức tích luỹ, thi, kiểm tra, xét tốt nghiệp, tốt nghiệp, cấp bằng…không có  gì khác biệt nhiều so với đào tạo đại học chính quy tập trung (trong khi đối tượng tham gia đào tạo chính quy tập trung chủ yếu là thanh niên vừa tốt nghiệp THPT hoặc tương đương họ dành toàn bộ thời gian cho việc học, học với cường độ cao, học vào giờ hành chính, học ban ngày, trong một quãng thời gian nhất định dành cho độ tuổi và học tại cơ sở đào tạo). Do đó về phương pháp dạy và học, với thời lượng ít ỏi nên không thể hiện được phương pháp “thuyết giảng - đọc chép” trong các đợt tập trung rất ngắn ngủi. Vì thế các cơ sỏ đào tạo nên xây dựng và hoàn thiện để sớm đưa vào mô hình đào tạo riêng cho hệ đào tạo KCQ mang tính khả thi nhất trong điều kiện Việt Namhiện nay. Cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ ở tất cả các khâu từ quản lý (nội dung, chương trình, thi tuyển, thi hết môn, thi tốt nghiệp, bằng cấp…) đến sự thực thi ở cơ sở đào tạo ( giáo trình, học liệu, phương pháp dạy và học…)

              Trong quá trình dạy học, giảng viên  nên thông qua các dạng học liệu đa dạng, có chất lượng và thực hiện truyền thông đa phương tiện tới học viên (giáo trình in ấn, trang Wed…) đối với người học, phải sử dụng phương pháp chủ yếu là tự học thông qua nhiều kênh thông tin, bằng các phương tiện và học liệu thích ứng với điều kiện học tập tại địa phương, các đợt tập trung nên dành chủ yếu cho việc hướng dẫn, giải đáp ôn tập và thi cử. Hỗ trợ về các phương pháp luận, giúp cho người học nắm được các chiến lược nhận thức, vận dụng và cải tiến đối với các tình huống, môn học cụ thể trong quá trình tự học dần dần nâng lên thành các kỹ năng tự học hiệu quả ( phương pháp đọc sách, tra cứu, ghi nhớ kiến thức, nâng cao các bậc thang nhận thức…). Kích thích học viên sử dụng kiến thức cũ hay ở các nguồn học liệu khác nhau, giúp người học làm quen với các loại học liệu, cách sử dụng khai thác các loại học liệu (tài liệu in ấn, nghe – nhìn, tài liệu điện tử…) có được các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm hợp lý, cần có những yêu cầu rõ ràng đối với học viên trong các đợt tập trung để hướng dẫn giải đáp được hiệu quả (học viên phải nghiên cứu trước tài liệu, đề xuất các thắc mắc câu hỏi…) . Đặc biệt trong đào tạo KCQ việc hỗ trợ học viên về mặt cảm xúc hết sức quan trọng vì tự học trong  hoàn cảnh gần như độc lập hoàn toàn nên rất thiếu hụt những “cảm xúc sư phạm” , một lĩnh vực cảm xúc liên quan tới các tâm thế dẫn dắt người học như : sở thích, say mê, sự chán ghét, sự thất vọng, những ức chế, các quyết định hay phủ định, các thông tin cần thiết trong quá trình học tập…bởi vì đa số người học đại học hệ KCQ đều đã lớn tuổi, có một vị thế xã hội và nghề nghiệp nhất định, do đó khó tránh khỏi bệnh “Sĩ diện”, “giấu dốt” ngại hỏi và nếu ai hỏi họ về kiến thức thì nhiều khi họ cũng ngại ngùng…do đó cản trở không ít trong bước đường tự học và dành được mục tiêu học tập.Những người lớn tuổi đã có nhiều kinh nghiệm trong nghề nghiệp và đời sống nên thường có thói quen quyết đoán, thói quen này cũng có những mặt tốt nhưng về mặt nhận thức cũng nảy sinh những yếu điểm trong quá trình tự học(khó chấp nhận cái mới, theo chủ nghĩa kinh nghiệm - bảo thủ…). Vì vậy để có thể hỗ trợ họ có thể sử dụng các giải pháp tăng các tương tác sư phạm (xây dựng học liệu, truyền thông học liệu, các kênh giúp đỡ người học…).

            Bên đó cần giúp họ nhận thức một cách đúng đắn về động cơ học tập phải xác định cho họ rõ ràng mục tiêu, động cơ học tập với việc duy trì ý chí và nghị lực, khuyến khích tính kiên trì…trong đó việc gặp gỡ tại nơi học tập là một phương tiện rất tốt tạo điều kiện cho người học có dịp quen biết nhau trao đổi với nhau thành những nhóm học tập, xây dựng thư viện học liệu ở các địa phương nơi mở lớp. Sự liên kết và mối liên hệ chặt chẽ trên cơ sở hợp tác bình đẳng và chia sẻ giữa các trường đại học với các địa phương có lớp là một yếu tố quan trọng thúc đẩy động cơ học tập của người học (thúc đẩy sự chuyên cần, khuyến khích sự vận dụng những điều đã học vào nghiệp vụ, động viên những tiến bộ trong học tập, tạo những điều kiện về thời gian giúp đỡ về mặt tinh thần để người học vượt qua các khó khăn…)

            Nhằn thực sự phát huy tiềm năng giảng dạy, mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động cho các trường đại học, đào tạo tại chỗ, đào tạo theo địa chỉ, đồng thời khai thác và tận dụng được cơ sở vật chất sẵn có và các nguồn kinh phí cho đào tạo của địa phương…cần phải thực hiện triệt để yêu cầu “3 công khai” của Phó thử tướng Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã đề xuất. Các cấp quản lý địa phương, nòng cốt là UBND tỉnh, Sở Giáo dục – Đào tạo cần thường xuyên kiểm tra năng lực thực tế của các cơ sở liên kết đào tạo tại địa phương khi phối hợp với các trường đại học phải có đội ngũ cán bộ quản lý, có đủ kiến thức và kỹ năng quản lý, đạt tiêu chuẩn về phẩm chất, có đủ trang thiết bị, cơ sở vật chất mà Bộ Giáo dục Đào tạo đã quy định để đảm bảo thực hiện mục tiêu chương trình đào tạo.

            Ngày nay, khi khoa học công nghệ phát triển mạnh, thông tin bùng nổ, nhu cầu và yêu cầu của xã hội ngày một cao thì kiến thức trong nhà trường chỉ là kiến thức nền tảng để trên cơ sở đó người học vươn ra tiếp thu kiến thức trong gia đình và ngoài xã hội. Vấn đề tự học lúc này trở thành con đường cơ bản để nâng cao trình độ hiểu biết cho bản thân. Mỗi người cần xây dựng cho mình một kế hoạch học tập khoa học và sáng tạo phù hợp với năng lực của bản thân, với hình thức học. Về nguyên tắc hệ đào tạo đại học VLVH tại địa phương bắt buộc vẫn phải dựa vào chuẩn mực của hệ đào tạo đại học chính quy tập trung để so sánh về mặt chất lượng và thực tế cũng đã chứng minh người tốt nghiệp đại học ở mỗi hệ trong cùng một ngành  học đều có những ưu thế riêng (người tốt nghiệp ĐH chính quy có điểm mạnh về lý luận cơ bản, còn người tốt nghiệp ĐH VLVH tại địa phương lại có điểm mạnh về kinh nghiệm thực tiễn). Nếu cả lý luận và thực tiễn là hai thành phần không thể thiếu được trong năng lực của người tốt nghiệp ĐH thì không thể xem nhẹ một thành phần nào, không thể coi người có điểm mạnh về lý luận hơn hẳn người có điểm mạnh về thực tiễn hoặc ngược lại. Hơn nữa chất lượng đào tạo luôn gắn với hiệu quả, không chỉ đánh giá qua năng lực học tập mà còn cần phải đánh giá qua năng lực làm việc đạt hiệu quả đáp ứng yêu cầu của xã hội.