thuê xe mercedes học tiếng trung trung tâm tiếng trung công ty bao bì
Trang chính
TTGDTX Hưng Yên » Thông Tin Giáo Dục 16.12.2017 06:16
SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ HỌC TẬP TƯ TƯỞNG, PHONG CÁCH ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH TẠI TTGDTX TỈNH HƯNG YÊN (Kỳ 4)
23.11.2017 14:46

Xem hình
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4, khoá XII về tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.
Được sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên, trong ba tháng, từ tháng 8 đến tháng 10/2017 toàn thể cán bộ viên chức Trung tâm tiếp tục tuyên truyền việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác đến toàn thể cán bộ, viên chức bằng hình thức sinh hoạt chuyên đề và đã đạt được kết quả như sau:



I- Tổng số chuyên đề đã thực hiện trong ba tháng(từ tháng 8 đến tháng 10/2017): gồm 9 chuyên đề - cụ thể:


TT

Tên chuyên đề

Thời gian

thực hiện

Đơn vị

thực hiện

1

Tư tưởng HCM về nói đi đôi với làm

11/8/2017

Phòng NN-TH

2

Tư tưởng HCM về giản dị, khiêm tốn

17/8/2017

Phòng BDNC

3

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác tại TTGDTX tỉnh HY

24/8/2017

Phòng QLĐT

4

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận và học tập lý luận

27/9/2017

Phòng NN-TH

5

Nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý tại Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên

21/9/2017

Phòng QLĐT

6

Học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường

13/9/2017

Phòng BDNCTĐ

7

Tư tưởng HCM trong việc chữa căn bệnh cấp bậc

12/10/2017

Phòng NN-TH

8

Học tập Tư tưởng Hồ Chí trong việc xin chỉ thị, gửi báo cáo.

18/10/2017

Phòng BDNCTĐ

9

Tính chuyên nghiệp trong công tác kế toán

31/10/2017

Phòng QLĐT

II- Nội dung cơ bản của các chuyên đề:

- Đối với nội dung các chuyên đề về học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, đã toát nên được những tư tưởng, đạo đức và phong cách của Hồ Chủ tịch qua từng vấn đề, từng sự việc một cách cụ thể, qua đó để mỗi cá nhân trong cơ quan hiểu và thấm nhuần một cách sâu sắc về tư tưởng của Bác, từ đó áp dụng vào trong công việc một cách hiệu quả.

- Đối với các chuyên đề về hoạt động chuyên môn, nội dung chuyên đề đi sâu vào tìm hiểu từng vị trí, từng nhiệm vụ công việc một cách cụ thể, để từ đó, giúp cho mọi người hiểu rõ hơn về vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc được giao.

- Mỗi chuyên đề đều có phần liên hệ thực tế với nhiệm vụ cụ thể trong cơ quan, những việc đã làm được, chưa làm được, nêu rõ nguyên nhân, cách khắc phục. Phần cuối chuyên đề là các câu hỏi thảo luận xoay quanh nội dung chuyên đề, liên hệ thực tế với kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng cá nhân, các tình huống và cách xử lý. Với những ý kiến thảo luận đóng góp hết sức sôi nổi, mỗi cá nhân trong đơn vị đã nhận thức một cách sâu sắc công việc mình đang đảm nhiệm và ngày càng cố gắng hoàn thiện bản thân mình hơn, giúp cho cơ quan ngày càng phát triển.

1- CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM.

1.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta phải nói đi đôi với làm

“Nói thì phải làm” là thể hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm. Đối với mỗi người, để thực hiện được việc thống nhất giữa lời nói với việc làm phải có nhận thức đúng và quyết tâm vượt qua chính mình. Có nhận thức đúng nhưng không vượt qua được sự cám dỗ của lợi ích cá nhân sẽ dẫn đến “nói không đi đôi với làm”. Để “nói đi đôi với làm”, còn cần có sự cố gắng, bền bỉ và quyết tâm, bởi bất kỳ công việc nào, nhiệm vụ gì, dù lớn hay nhỏ, khó hay dễ, phức tạp hay giản đơn, nhưng nếu không ra sức phấn đấu thì cũng không thể thành công được. “Nói đi đôi với làm” thể hiện bằng kết quả công việc, với những sản phẩm cụ thể. Kết quả công việc là thước đo sự cống hiến của mỗi người.

            Theo Người, về bản chất, “nói đi đôi với làm” không chỉ là nguyên tắc đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động mà còn là biểu hiện sinh động cụ thể của việc quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người.

1.2- Học tập tư tưởng HCM về  nói đi đôi với làm

Một là, nói phải đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai. Để làm được điều này, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu, thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng. Nghiêm túc nghiên cứu, học tập lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ động nghiên cứu sâu, tìm hiểu kỹ những nội dung cơ bản, cốt lõi về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, khi đã nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì phải truyền đạt lại cho nhân dân đúng nội dung, đúng tinh thần, không nói sai, không xuyên tạc.

            Hai là, “nói đi đôi với làm”, không được “nói một đàng làm một nẻo”. Theo Bác, “lời nói đi đôi với việc làm”, nói được làm được, sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Khi đề ra công việc, phải tránh cách nói chung chung, đại khái và khó hiểu. Khi nói cần phải cụ thể, thiết thực, từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. Cán bộ phải “nói đi đôi với làm”, nói trước làm trước. Không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm. Nếu chính mình tham ô mà bảo người khác liêm khiết, mình không làm việc nhưng hô hào người khác làm việc thì không được. Nếu nói rằng phải cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, mà bản thân lại lười biếng, không hoàn thành những công việc được giao, luôn tìm cách tham ô tiền của Nhà nước và nhân dân; sống xa hoa, lãng phí trong khi cuộc sống của đại đa số nhân dân còn nhiều thiếu thốn,... thì những lời nói đó sẽ không có tác dụng giáo dục.

           Để chống việc “nói một đàng làm một nẻo”, mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng cần xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và phải phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tập thể và cá nhân. Khi giao nhiệm vụ cần thật cụ thể, chi tiết, không chung chung, đại khái, ai hiểu thế nào cũng được, như vậy rất khó thực hiện. Mỗi công việc đều phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, lộ trình, tiến độ, khối lượng và chất lượng. Khi giao việc cho nhân viên, thủ trưởng phải làm gương trước; nói với nhân dân, cán bộ, đảng viên phải làm trước để người dân làm theo. Đồng thời với việc giao nhiệm vụ, cần phải đi sâu đi sát, kiểm tra đôn đốc kết quả của việc thực hiện những công việc đã đề ra, không thể làm theo lối quan liêu - giao việc xong phó mặc cho người thực hiện.

           Ba là, không được hứa mà không làm. Lời hứa chỉ có giá trị khi đi liền với việc làm cụ thể. “Làm” ở đây chính là hành động, là hoạt động thực tiễn, là tổ chức thực hiện; đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, từ việc nhỏ đến việc lớn mang ý nghĩa thiết thực. Để tránh việc hứa mà không làm, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên đã “nói thì phải làm”, “Nói ít, bắt đầu bằng hành động”; “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Cán bộ lãnh đạo làm gương cho nhân viên; cấp trên làm gương cho cấp dưới; cán bộ, đảng viên làm gương cho nhân dân. Đồng thời, cần giao cho một đơn vị hoặc cá nhân thường xuyên kiểm tra, giám sát và nhắc nhở đối với những tổ chức, cá nhân đã đưa ra lời hứa và yêu cầu tổ chức, thực hiện cho đúng. Có những việc cần giao cho nhân dân kiểm tra, giám sát và đôn đốc thực hiện.

1.3. Tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh “về nói đi đôi với làm”

Người quan niệm: Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước; tự mình phải chính trước, mới giúp người khác chính, mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Năm 1945, trước nạn đói trên miền Bắc, Người đề xuất toàn dân tiết kiệm gạo để giúp đồng bào bị đói và Người kêu gọi: "Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”.

Những năm Hồ Chí Minh sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, khi kinh tế khó khăn, đời sống nhân dân còn nghèo khó, mọi người ăn cơm độn ngô, khoai, sắn, Người đề nghị nhà bếp: Cán bộ, nhân dân ăn độn bao nhiêu phần trăm, nấu cơm độn cho Người từng ấy, giống như cán bộ, nhân dân. Trong các chuyến đi thăm các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng vì không muốn phiền hà đến cơ sở…

1.4 – Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

Để thực hiện tốt việc nói đi đôi với làm, trước hết lãnh đạo, nhân viên phải hiểu rõ nhiệm vụ của mình, cụ thể những công việc được giao. Mỗi người phải cảnh giác với sự ngoan cố tinh vi của chủ nghĩa cá nhân đang ẩn nấp quanh chúng ta. Lãnh đạo phải có sự kiểm tra giám sát, nhân viên phải nắm vững chủ trương chính sách phát luật của nhà nước. Trên cơ sở pháp luật, lãnh đạo đề ra những chủ trương cụ thể và mọi người phải thực hiện.

Về cơ bản chúng ta đã có hướng làm theo Bác Hồ về mọi mặt, nhưng làm chưa tốt. Thượng tôn pháp luật còn hời hợt, một số đồng chí còn chưa tuân thủ một cách nghiêm túc về giờ giấc làm việc, chưa biết tận dụng thời gian một cách triệt để.

Chúng ta đã thắp ngọn lửa theo tư tưởng HCM, lời Bác Hồ là dựa vào những người đi trước, nói đúng và làm theo là đúng, phải dẹp bỏ chủ nghĩa cá nhân, chúng ta phải hiểu mình đang ở đâu, ít hay nhiều việc, nếu ít việc cần phải làm cho tốt.

          Mỗi chúng ta cần phải nắm vững được vai trò và trách nhiệm của mình. Tập thể phải đoàn kết thương yêu, nói đi đôi với làm.

2- CHUYÊN ĐỀ: TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐỨC GIẢN DỊ, KHIÊM TỐN.

2.1- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh vì sao chúng ta lại phải giản dị khiêm tốn       Giản dị không có nghĩa là thô sơ, cục mịch, giản đơn mà giản dị là cách sống, cách suy nghĩ chân thật, trung thực của con người. Giản dị là cách sống không cầu kì, xa hoa, sống phù hợp với hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh cá nhân. Sự giản dị thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau: từ cách sử dụng vật chất, lời ăn tiếng nói hằng ngày, cách hành xử của mỗi người, cử chỉ, cách thể hiện bản thân …

Người sống giản dị là người biết cách trang phục phù hợp với bản thân, phù hợp với tính cách, văn hóa, điều kiện kinh tế, không cầu kì; là người ăn nói cẩn thận, không khoa trương, không dùng lời lẽ xa hoa, bóng bẩy, lời nói đơn giản, ngắn ngọn, dễ hiểu, truyền đạt đúng và đầy đủ thông tin mà họ muốn nói.  Người có tính giản dị thường sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền có mục đích đúng đắn, nhìn nhận sự việc đúng mức, không quan trọng hóa vấn đề.

Khiêm tốn là sự kính nhường, có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự mãn, tự kiêu, không tự cho mình hơn người, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, không ngừng học hỏi.

Người khiêm tốn là người hoàn toàn biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình. Người khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại. Lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường, không đáng kể, luôn tìm mọi phương diện để học hỏi.

                   

2.2- Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đức giản dị khiêm tốn.

Với bao thế hệ Việt Nam, thì Hồ Chủ tịch thật gần gũi thân thương và đáng kính “Người là Cha, là Bác, là Anh” và vô cùng khiêm tốn, giản dị. Bác của chúng ta là một tấm gương sáng ngời về đức tính giản dị. Nơi làm việc cũng là nơi ở của Người chỉ là một ngôi Nhà sàn đơn sơ với các đồ đạc đủ dùng ở mức tối thiểu và cần thiết nhất. Hàng ngày, Người thường dùng bữa với vài ba món ăn dân dã, đơn giản. Trang phục Người thường mặc nhất là bộ bà ba nâu, bộ ka ki vàng và đôi dép cao su… Sự giản dị của Người còn thể hiện ở trong từng lời nói luôn luôn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Nói về chủ nghĩa xã hội, Người nói một cách thật dễ hiểu là “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, ốm đau được chữa bệnh”.

Sự khiêm tốn cũng là một đức tính nổi bật của Bác Hồ. Là lãnh tụ nhưng Người khiêm tốn với tất cả mọi người, cả người già và người trẻ. Đối với những người giúp việc thường xuyên bên mình, Bác thường gọi hết sức thân mật và trân trọng là cô, chú như những người trong gia đình. Đối với các vị nhân sĩ, trí thức khi tiếp chuyện Bác luôn thưa gửi rất lễ độ và đúng mực. Khi Quốc hội đề nghị tặng Bác Huân chương cao quý nhất của Nhà nước là Huân chương Sao Vàng. Biết tin ấy, Bác Hồ rất cảm động.

Cuộc đời và sự nghiệp của Bác là minh chứng sống động cho đức khiêm tốn, giản dị của Người. Mỗi khi gặp gỡ đồng bào, Bác coi như những người ruột thịt nên câu chuyện thân tình, không có khoảng cách trên dưới, bởi thế những điều Người nói như những lời gợi mở, khuyên nhủ thật dễ nhớ để làm theo. Trong bữa ăn, thấy có món ngon, món lạ là Bác hỏi. Nếu anh em phục vụ bảo nơi này, nơi kia biếu là Bác nhắc: Bác có phải là vua đâu mà cung với tiến, rồi Người đem chia đều thức ăn cho mọi người.

Nhiều lần đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Theo Bác, xuống thăm các địa phương, cơ quan, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém, Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Khi được mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

Ðồng thời, Bác cũng nhắc nhở mọi người rằng, nước ta còn nghèo, mà cái nghèo thì không phải dễ dàng nhanh chóng khắc phục, còn phải chịu đựng nó lâu dài, vậy thì sống giản dị, tiết kiệm là thói quen tốt, cần rèn luyện thường xuyên. Sự giản dị, phong thái ung dung ấy của Bác bắt nguồn từ một thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng. Nó kết hợp những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với đạo đức cộng sản. Nó có sức thu hút mạnh mẽ tình cảm mọi người và qua đó Bác càng trở nên vĩ đại.

3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề

- Qua chuyên đề chúng ta cần phải học rất nhiều, từ lời ăn tiếng nói, hành động, cử chỉ, cách hành xử của bản thân  – ví dụ: ăn mặc đúng người, không theo thời tiết, không theo mốt, phải mặc phù hợp với mình, ăn nói mộc mạc, không khoa trương, nói đúng mục đích, dễ hiểu… che giấu những cái khốn khó của mình không phải là giản dị.

- Sống tiết kiệm, sử dụng đồng tiền đúng mục đích, sống trong sáng, khiêm tốn, là chính mình, phải thượng tôn pháp luật, có niềm tin vào Đảng, có lí tưởng, có chính kiến, sống giản dị và khiêm tốn.

- Nói về công việc, chúng ta chưa học được nhiều, sự thiếu khiêm tốn thể hiện ở mỗi viên chức, những người có lối sống ích kỷ đến một lúc nào đó sẽ bị trả giá, những lời nói không chính ngôn, không trong cuộc họp ta không cần bàn tới, nên để phía sau. Mỗi người cố gắng một chút, mỗi người nhịn đi một chút, mỗi người phấn đấu hơn một chút… để gần gũi, đoàn kết với nhau hơn. Nếu trong lòng vẫn còn ham muốn, ích kỷ cá nhân … thì rất khó để thay đổi.

3- CHUYÊN ĐỀ: NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC TẠI TTGDTX TỈNH HY

3.1- Vì sao phải nâng cao tính chuyên nghiệp trong công việc:

Trong môi trường làm việc năng động, hiện đại, tính chuyên nghiệp là một trong những tiêu chí hàng đầu quyết định sự thành công của một đơn vị hay thăng tiến của các cá nhân. Chính vì vậy tính chuyên nghiệp trong công việc ngày càng được đề cao và là một trong những yêu cầu đầu tiên đối với cán bộ viên chức; người lao động.

3.2- Cách rèn luyện cho bản thân tính chuyên nghiệp trong công việc

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính chuyên nghiệp trong công việc, nhưng tựu trung lại đều thống nhất rằng " tính chuyên nghiệp được khẳng định bằng hiệu quả". Chuyên nghiệp, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là chuyên tâm vào công việc của mình. Ai chuyên tâm làm việc đều đã có thể là chuyên nghiệp. Khi chuyên tâm và dốc toàn lực vào đó thì thường họ sẽ rất giỏi trong phạm vi công việc của mình. 

Chuyên nghiệp là biết cách điều tiết công việc phù hợp với tiến độ và môi trường xung quanh để tạo nên hiệu quả tốt nhất. Hay chuyên nghiệp thể hiện qua tác phong làm việc nhanh nhạy, khoa học kết hợp với việc nắm vững về kiến thức chuyên môn. 

Phong cách "chuyên nghiệp" không chỉ có trong những công việc có quy mô lớn mà phải thể hiện ngay trong những công việc nhỏ. Mục đích của sự chuyên nghiệp là nhằm tạo ra sự hoàn chỉnh và sự hoàn chỉnh chỉ có được khi tất cả các chi tiết dù là nhỏ nhất phải được xây dựng một cách đồng bộ, nhất quán. 

3.3- Vì sao phải xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp.

Trong một cơ quan, đơn vị, một môi trường làm việc chuyên nghiệp là  trong đó tất cả các cá nhân đều làm việc một cách chuyên  Môi trường làm việc chuyên nghiệp là môi trường có những đồng nghiệp đều chuyên nghiệp, có ý thức công việc cao, kỹ năng tốt và biết phối hợp hỗ trợ nhau một cách nhịp nhàng, nơi mà ở đó chính bản thân mỗi chúng ta cũng phải là một mắt xích trong cỗ máy chạy trơn tru đó. Môi trường chuyên nghiệp đó được thể hiện cụ thể như sau:

+ Có cầu nối giữa lãnh đạo và nhân viên

+ Biết rõ mục tiêu của đơn vị.

+ Hiểu rằng bản thân là một phần của đơn vị, những đóng góp của ta đều được ghi nhận và khuyết điểm được chỉ ra kịp thời.

+ Nơi làm việc  không phải là nơi để tán gẫu.

+ Cách làm việc cởi mở, minh bạch, rõ ràng.

+ Môi trường cho phép sự thăng tiến của bản thân.

+ Tâm trạng làm việc tích cực.

+ Doanh thu cao, thưởng cao.

+ Không sợ hãi công việc.

+ Mọi người luôn hỗ trợ nhau.

+ Tránh tin đồn gây mâu thuẫn.

Vì vậy việc xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp là điều không thể thiếu đối với đơn vị; một môi trường làm việc chuyên nghiệp sẽ luôn có sự đoàn kết thấu hiểu lẫn nhau và mang lại  hiệu quả cao trong công việc.

3.4- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Tất cả các công việc dù lớn hay nhỏ đều cần chuyên nghiệp, từ ý tưởng đến cách thực hiện để đạt mục tiêu đề ra.

- Quan điểm về tính chuyên nghiệp gồm các tiêu chí sau:

+ Chú ý tới các quy tắc văn hóa nơi làm việc.

+ Nhận thức được những phản hồi là của công việc, không phải mang tính cá nhân.

+ Viết rõ ràng, không sai chính tả, câu cú ngắn gọn, thoát ý.

+ Linh hoạt, không nên bỏ dở công việc.

+ Luôn đáng tin cậy, lí do phải chính đáng.

+ Làm việc nhiều hơn yêu cầu tối thiểu.

+ Đừng xem cấp trên như người đối lập.

- Mỗi người cần xem lại trong các tiêu chí nêu trên, cái gì mình đã làm được, cái gì mình còn thiếu để kịp thời sửa chữa.

- Tác phong chuyên nghiệp là sản phẩm của tính tự học, quyết định sự thành công của cá nhân và của tập thể.

- Tính chuyên nghiệp của lãnh đạo và nhân viên đều như nhau, nhưng ở mức độ khác nhau, vì chuyên nghiệp có nghĩa là chuyên tâm vào công việc của mình.

- Nếu đồng nghiệp của mình thiếu chuyên nghiệp thì mình nên góp ý cho họ để họ hoàn thiện hơn. Chia sẻ và giúp đỡ người khác thì chính mình cũng sẽ hoàn thiện hơn.

- Phong cách chuyên nghiệp, tính chuyên nghiệp chính là độ chuyên sâu về nghề nghiệp, từ việc nhỏ nhất cũng phải mang cái tâm của mình ra làm việc thì mới đem lại hiệu quả.

- Tập thể của chúng ta là một tập thể chuyên nghiệp nhưng tính chuyên nghiệp ở mức độ nào thì cần phải soi lại các tiêu chí trên để đánh giá.

4- CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ LÝ LUẬN VÀ HỌC TẬP LÝ LUẬN

4.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta lại phải học tập lý luận

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế” và “không hiểu lý luận thì như người mù đi đêm”. Như vậy, lý luận đối với Hồ Chí Minh không phải là mục đích tự thân, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn, phải được chứng minh trong thực tiễn và khi được vận dụng vào thực tiễn, nó được bổ sung, phát triển, trở nên phong phú và sâu sắc hơn, phản ánh đầy đủ hơn, chuẩn xác hơn các quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội và của con người.

Lý luận có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng, đối với Đảng và đối với mỗi con người.

Đối với cách mạng Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là do thiếu lý luận cách mạng đúng đắn dẫn đường. Trải qua những cuộc đấu tranh, nhờ lý luận mà quần chúng hiểu rõ nguyên nhân vì sao mà cực khổ, thấy rõ đường lối đấu tranh để giải phóng mình, hiểu rõ phương pháp đấu tranh với địch. Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”

Đối với Đảng: Là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ sự cần thiết của lý luận đối với Đảng. Người chỉ rõ cách mạng muốn thành công tất yếu phải có Đảng lãnh đạo. “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.

Đối với sự hình thành nhân cách con người:  Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”. Con người có lý luận soi đường, sẽ hành động đúng, trở thành những công dân tốt, những cán bộ tốt, sẽ hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

4.2- Học tập tư tưởng HCM về lý luận và học tập lý luận

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng viên và cán bộ phải có lập trường giai cấp vô sản thật vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; đòi hỏi cán bộ đảng viên phải rửa sạch ảnh hưởng của những tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện chủ nghĩa tập thể. Nó đòi hỏi cán bộ và đảng viên phải khắc phục các bệnh quan liêu và cô độc hẹp hòi để liên hệ chặt chẽ với quần chúng, do đó mà phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng triệu quần chúng nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”.

“Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”.

Hồ Chí Minh không chỉ nói rõ mục đích, động cơ học tập lý luận, mà còn chỉ rõ phương pháp học tập đúng đắn, phù hợp với bản chất cách mạng và khoa học của lý luận Mác - Lênin. Theo Người, “không phải học để thuộc lòng từng câu, từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc. Nhưng chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”. Rằng, chúng ta “phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng… giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta. Như thế chúng ta học tập lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế”.

Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, học lý luận không phải để thuộc lòng từng câu, từng chữ, cũng không phải học lý luận vì lý luận, học lý luận để đem loè thiên hạ, để kiêu ngạo, để thành con mọt sách, thành người lý thuyết suông, học lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế. Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về học tập lý luận cho chúng ta thấy, Người là một nhà duy vật thực tiễn tiêu biểu - đó là chủ nghĩa duy vật hành động, chủ nghĩa duy vật thực tiễn, đưa lý luận cách mạng vào quần chúng, khơi dậy và phát huy sức mạnh của quần chúng, đem lý luận gắn liền với quần chúng nhân dân.

4.3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Lý luận phải được kiểm nghiệm qua thực tiễn, thực tiễn phải được lý luận soi đường mới đi đúng hướng, đúng mục tiêu, hiệu quả công việc mới cao hơn.

- Nói giỏi mà thực hành không giỏi là nói suông, nói phải đi đôi với làm, lý thuyết đi đôi với thực hành.

- Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho ta trong công việc thực tế, không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phải nhắm theo lý luận.

- Từ lý luận đã học áp dụng vào thực tế, từ thực tiễn làm việc lại rút ra lý luận cho riêng mình.

- Người không học lý luận làm việc sẽ không hiệu quả, không biết xử lý các việc, ý mình thế nào sẽ làm thế ấy, thường sẽ thất bại vì không có lý luận như người mù đi đêm.

- Lý luận là kim chỉ nam, lý luận phải xuất phát từ thực tiễn.

- Lý luận phải áp dụng được vào thực tiễn, nếu không thì chỉ là lý thuyết suông.

- Trong xã hội văn minh phải cần cả thực tiễn và lý luận đó là điều kiện cần và đủ vừa hồng phải vừa chuyên…

- Họ giỏi lý luận nhưng vẫn làm sai là khinh lý luận.

- Đối với cán bộ viên chức tại trung tâm ta vẫn phải tiếp tục học, đặc biệt là công tác lãnh đạo quản lý.

- Nhược điểm của chúng ta là không biết áp dụng lý luận vào thực tiễn ta chỉ có lý luận suông.

- Chúng ta cần không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý.

5- CHUYÊN ĐỀ: NÂNG CAO TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ TẠI TRUNG TÂM GDTX TỈNH HƯNG YÊN.

5.1- Vai trò của người cán bộ quản lý.

Cán bộ quản lý là người làm lao động quản lý, thực hiện một chức năng, nhiệm vụ nào đó trong cơ cấu tổ chức quản lý. Quản lý là loại lao động mang tính sáng tạo, thể hiện trong việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch và tổ chức thực hiện mục tiêu đó. Cùng những chức năng quản lý như nhau nhưng mỗi cá nhân đảm trách lại có phương pháp thi hành và hiệu quả khác nhau. Cái làm nên sự khác biệt đó là tri thức, tài năng, phong cách , đạo đức và uy tín của cá nhân cán bộ quản lý.

Căn cứ vào chức năng mà cán bộ quản lý đảm nhiệm, đội ngũ cán bộ quản lý có thể chia thành 3 loại chính:

- Cán bộ lãnh đạo: là những người đứng đầu một tổ chức, một phân hệ,  một bộ phận. Họ có quyền ra quyết định, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trên.

- Cán bộ tham mưu là những người có trình độ và thông thạo về một lĩnh vực nào đó. Họ không có quyền ra quyết định mà chỉ giúp cán bộ lãnh đạo chuẩn bị các phương án, soạn thảo các quyết định quản lý để tham mưu cho cán bộ lãnh đạo ra quyết định phù hợp và chịu trách nhiệm về mặt chuyên môn. Đội ngũ tham mưu rất quan trọng vì quản lý là lĩnh vực hoạt động liên ngành nên bản thân lãnh đạo không thể hiểu hết các lĩnh vực chuyên môn.

- Nhân viên điều hành nghiệp vụ là những người thành thạo và tinh thông nghiệp vụ thông tin, điều hành, kiểm tra, giám sát, hạch toán… họ không có quyền ra quyết định nhưng giúp cán bộ lãnh đạo trong việc đảm bảo cho cả hệ thống vận hành theo kế hoạch đã định.

Đội ngũ cán bộ quản lý là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả lao động của một tổ chức. Đóng vai trò quan trọng trong hệ thống đòi hỏi người cán bộ quản lý cần phát huy nhân tố chủ quan, có bản lĩnh, tri thức để xử lí, lựa chọn đưa ra những quyết định quản lý đúng đắn, khoa học, kịp thời và hiệu quả.

5.2-Những yêu cầu cơ bản giúp nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý.

Để nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác quản lý nói chung thì người cán bộ quản lý cần nắm được những yêu cầu cơ bản như sau:

- Thứ nhất: Yêu cầu về phẩm chất chính trị: Cán bộ quản lý phải có tư tưởng và lập trường vững vàng, dám nhận trách nhiệm và hoàn thành trách nhiệm của mình. Cán bộ quản lý phải có uy tín với cấp dưới, biết lôi cuốn người khác vào công việc chung một cách tích cực nhất.

- Thứ hai: Yêu cầu về trình độ chuyên môn, xã hội, pháp luật: cán bộ quản lý phải có đủ tri thức để hiểu và vận hành được tổ chức do mình quản lý. Có kiến thức chuyên môn cần thiết về lĩnh vực mà mình phụ trách, nắm vững luật pháp. Cán bộ lãnh đạo đòi hỏi tri thức toàn diện và khái quát, cán bộ tham mưu đòi hỏi kiến thức chuyên ngành sâu, cán bộ thừa hành đòi hỏi tri thức hẹp hơn và chủ yếu là kĩ năng.

- Thứ ba: Yêu cầu về năng lực cá nhân: cán bộ quản lý phải là người có khả năng quan sát, nắm bắt được vấn đề, tìm cách giải quyết được vấn đề một cách tốt đẹp nhất. Cán bộ quản lý cần biết cách tổ chức hoạt động khoa học, đồng bộ, sử dụng đúng tài năng của từng người, biết động viên con người.

- Thứ tư: Yêu cầu về phẩm chất đạo đức, tác phong: cán bộ quản lý cần có phẩm chất đạo đức, tác phong phù hợp với tổ chức mà họ quản lý. Đạo đức của cán bộ quản lý làm nên uy quyền của họ trước những người dưới quyền. Một cán bộ quản lý có đạo đức tốt, có tác phong phù hợp với cương vị sẽ thu được thiện cảm và niềm tin của người dưới quyền, nhờ đó hiệu lực lãnh đạo sẽ được nâng cao.

5.3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Nhà Quản lý phải mang tính khoa học nghĩa là không phụ thuộc ý chí chủ quan mà phải dựa vào các quy luật, nguyên tắc và điều kiện của mỗi đơn vị trong từng giai đoạn.

- Nhà Quản lý phải mang tính nghệ thuật: tức là nhà quản lý phải dựa vào các nguyên tắc để tư duy, đưa ra phương pháp xử lí tình huống, công việc thích hợp; phải khéo léo, linh hoạt, sáng tạo…

- Bản thân là một nhà quản lý, để động viên cấp dưới làm việc thì nhiệm vụ trước tiên là phải phân công đúng người, đúng việc, hiểu rõ năng lực nhân viên dưới quyền; động viên, khen thưởng kịp thời nhưng cũng cần nghiêm khắc phê bình khi nhân viên mắc lỗi; theo dõi, giám sát để giúp đỡ nhân viên kịp thời nhưng cũng cần dành cho nhân viên mức độ tự quản nhất định; bản thân người cán bộ quản lý phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, khi giao việc phải là người đi tiên phong, tránh việc “chỉ tay năm ngón”.

- Cán bộ quản lí là người quyết định hiệu quả lao động của một tổ chức, như vậy, nhân tố con người là điều ảnh hướng lớn nhất đến cách quản lí của một nhà quản lí.

- Tại Trung tâm ta, đại đa số cán bộ quản lý làm việc chưa chuyên nghiệp, còn nhiều tồn tại, vướng mắc trong cách quản lý.

- Cán bộ quản lý chưa được học nghiệp vụ bài bản, chưa có kiến thức để làm quản lý.

- Những nhà chuyên môn giỏi phải biết giúp lãnh đạo, tham mưu với lãnh đạo. Việc quản lý tại Trung tâm ta thực hiện tương đối nghiêm túc nhưng nhân viên thì chưa thực sự tự giác thực hiện.

- Cán bộ quản lý cần thường xuyên tự học hỏi, trau dồi kiến thức chuyên môn và kiến thức nghiệp vụ; không làm việc một cách máy móc, mơ hồ.

6- CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG:

6.1- Học tập tưởng HCM vì sao chúng ta lại phải bảo vệ môi trường:

Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người vì môi trường cung cấp cho con người thức ăn, nước uống, khí thở, nơi ở và các tài nguyên thiên nhiên để con người sử dụng trong đời sống, sản xuất.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề bảo vệ môi trường. Người luôn xác định bảo vệ môi trường chính là bảo vệ sức khỏe, bảo vệ cuộc sống bền vững của con người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nguyên nhân của một số bệnh thường gặp chính là người dân chưa biết bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Người khẳng định “…Mình dù nghèo, ai cấm mình ăn ở sạch sẽ? Sạch sẽ là một phần của đời sống mới. Sạch sẽ thì ít đau ốm” . Trong bài nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu (Sơn La), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “…Ở đây đồng bào còn nhiều người sốt rét, các cháu bé thường thường đau mắt hột, bụng to. Vì sao? Vì không biết giữ vệ sinh. Đồng bào có muốn có sức khỏe để sản xuất không? Có muốn con cháu mình không đau mắt hột, không bụng to thế này không? Muốn thế phải giữ gìn vệ sinh, ăn uống sạch sẽ, nhà cửa sạch sẽ, vườn cũng sạch sẽ”. Người căn dặn: “Về vệ sinh, đường xá phải sạch sẽ. Ao tắm giặt, giếng nước uống phải phân biệt và săn sóc cẩn thận. Những ao hồ không cần thì lấp đi, cho đỡ muỗi. Phải có cầu xia chung, hoặc cầu xia riêng từng nhà. Đã khỏi hôi thối, ruồi nhặng, lại có phân tốt”.

                   

6.2- Học tập tư tưởng HCM về bảo vệ môi trường:

Thứ nhất, cốt yếu trong bảo vệ môi trường là xây dựng môi trường sống trong sạch, lành mạnh, ăn ở hợp vệ sinh, giữ gìn sức khỏe

Để tuyên truyền và vận động nhân dân hiểu biết về vai trò quan trọng của bảo vệ môi trường và có ý thức bảo vệ môi trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa công tác vệ sinh phòng bệnh vào phong trào thi đua yêu nước. Năm 1958, Người đã phát động phong trào “Vệ sinh yêu nước (phong trào diệt ruồi, muỗi)”. Người nhấn mạnh: “Ruồi muỗi là bạn đồng minh của giai cấp bóc lột, Nó gây ra nhiều tật bệnh, làm cho nhân dân ta ốm đau. Người ốm đau thì sức lao động bị giảm sút, công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa bị hạn chế. Vì vậy, chúng ta phải ra sức tiêu diệt những kẻ địch độc ác là ruồi muỗi, để tiêu diệt dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của nhân dân”. Phong trào “Vệ sinh yêu nước” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã được nhân dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng tạo thành một phong trào thi đua sôi nổi, rộng khắp. Người căn dặn nhân dân phải chú ý tới việc giữ gìn vệ sinh nơi đông người, tập thể vì nơi đó nếu không được đảm bảo vệ sinh sẽ rất dễ phát sinh dịch bệnh. 

Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, Người căn dặn: “Sau khi tôi qua đời…Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn” . Người chính là một tấm gương sáng về giữ gìn môi trường sống trong sạch, lành mạnh. Những lời căn dặn ở trên khiến chúng ta càng thêm cảm phục và kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ hai, trồng nhiều cây xanh là góp phần bảo vệ môi trường, làm trong lành không gian sống

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Người người trồng cây, nhà nhà trồng cây” để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa của các nước đế quốc không chỉ gây đau thương, mất mát mà còn vơ vét tài nguyên thiên nhiên, tàn phá và hủy hoại môi trường ở các nước thuộc địa

6.3. Trách nhiệm của mỗi cá nhân trong bảo vệ môi trường

Thứ nhất, mỗi cá nhân phải nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của môi trường, coi môi trường là sự sống còn của chính mỗi người, của đất nước, của các thế hệ con cháu tương lai.

Thứ hai, đổi mới tư duy về trách nhiệm bảo vệ môi trường, phải thực sự coi bảo vệ môi trường là trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể được đặt trong trách nhiệm chung của cả cộng đồng.

Thứ ba, bảo vệ môi trường thông qua những hành động nhỏ nhất như:

- Trồng nhiều cây xanh xung quanh nơi ở, nơi làm việc và nơi sinh hoạt cộng đồng; có ý thức chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ cây xanh;

- Xây dựng môi trường sống trong sạch, lành mạnh, ăn ở hợp vệ sinh như: Để rác đúng nơi quy định, thường xuyên vệ sinh sạch sẽ nơi ở, nơi làm việc, nơi sinh hoạt đông người…;

- Tích cực sử dụng các vật dụng thân thiện với môi trường, dễ phân hủy, hạn chế sử dụng các đồ dùng bằng kim loại, nhựa, túi nilon;

- Sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn năng lượng và tài nguyên: Trong gia đình, hay công sở, chỉ sử dụng các thiết bị điện thật cần thiết, không quên tắt các thiết bị điện không cần sử dụng khi ra khỏi nhà và phòng làm việc; tắt máy phương tiện tham gia giao thông khi chờ đèn đỏ,…

6.4- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

- Chúng ta phải ăn ở sạch sẽ, vứt rác đúng nơi quy định, ăn uống hợp vệ sinh, hạn chế sử dụng những vật dụng có ảnh hưởng tới môi trường như túi ni non, chất tẩy rửa, chỉ sử dụng điều hoà khi thời tiết quá nóng, không được chặt phá cây xanh…

- Ban lãnh đạo luôn quan tâm đến cảnh quan môi trường - hàng tuần, cơ quan đã tổ chức lao động tổng vệ sinh xung quanh khuôn viên, tạo môi trường xanh sạch đẹp;  chỉ sử dụng những thiết bị cần thiết, tiết kiệm điện, giấy in, phô tô…bên cạnh đó vẫn còn một số đ/c  sử dụng điện nước một cách tuỳ tiện.

- Việc giữ vệ sinh môi trường ở cơ quan ta thực hiện chưa tốt – cụ thể còn xả nước bừa bãi, thiếu ý thức, vệ sinh không sạch sẽ.

- Hiện nay Trung tâm đang trong giai đoạn sửa chữa , chúng ta cần phải có ý thức hơn, cần lao động vệ sinh nhiều hơn.

- Con người và thiên nhiên là yếu tố cộng sinh cùng nhau phát triển.

- Tư tưởng HCM rất hay, nhưng ý thức thì ta còn chưa thực hiện được.

7- CHUYÊN ĐỀ: TƯ TƯỞNG HCM VỀ CĂN BỆNH CẤP BẬC

7.1- Học tập tư tưởng HCM vì sao chúng ta lại phải chữa căn bệnh cấp bậc  

Theo tư tưởng HCM:  “Bệnh cấp bậc” đó là: “tỏ vẻ tự kiêu, tự đại”, xem khinh cán bộ cấp dưới, không chấp hành mệnh lệnh cán bộ cấp trên… Và kết quả của “bệnh cấp bậc” là “cán bộ không đoàn kết, công việc không trôi chảy”.

          Trong những năm qua, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng. Đội ngũ cán bộ đã và đang phát huy được vai trò trên các cương vị mà Đảng và nhân dân giao phó. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều nơi cho thấy, một số cán bộ chưa thực sự phát huy trách nhiệm trong công tác, tinh thần tự giác trong học tập, tu dưỡng phẩm chất đạo đức lối sống, ý thức tự phê bình và phê bình chưa cao, còn biểu hiện của “bệnh cấp bậc”. Những biểu hiện đó đã và đang làm giảm sút ý chí chiến đấu, ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết trong nội bộ và hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của các cơ quan đơn vị.

7.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc chữa căn bệnh cấp bậc:

          Một là, tiếp tục thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình trong các cơ quan, đơn vị

          Chế độ tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc của Đảng ta, thông qua tự phê bình và phê bình giúp cho cán bộ, đảng viên nhận rõ những ưu, khuyết điểm của mình và đồng chí, đồng đội. “Mục đích của phê bình là giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở một số địa phương việc thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình còn mang tính hình thức, chiếu lệ, e dè, nể nang, cán bộ cấp dưới không mạnh dạn chỉ ra các khuyết điểm của cấp trên; sau khi phê bình chưa tổ chức rút kinh nghiệm, chưa gắn chế độ tự phê bình và phê bình với chế độ kiểm tra, giám sát. Chính vì vậy, không ít cán bộ ở một số cơ quan, đơn vị đã và đang “mắc bệnh cấp bậc”.

          Hai là, thực hiện nghiêm nguyên tắc trong sắp xếp, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ

          Công tác cán bộ có vai trò quan trọng then chốt trong thời kỳ cách mạng mới, là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"(6). Chình vì vậy phải “Đổi mới và tăng cường công tác cán bộ, tạo sự chuyển biến trong thực tế về đánh giá, tuyển chọn và sử dụng cán bộ chủ yếu theo yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa"(7).

          Ba là, không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức lối sống và năng lực của cán bộ

          Phẩm chất đạo đức lối sống và năng lực công tác của cán bộ là cơ sở, điều kiện để mỗi cán bộ hoàn thành nhiệm vụ trên cương vị chức trách được giao. Thực tế cho thấy, ở đâu và khi nào cán bộ có những biểu hiện vi phạm về phẩm chất đạo đức, lối sống và hạn chế năng lực công tác thì ở đó “bệnh cấp bậc” có “điều kiện phát triển”. Nâng cao đạo đức lối sống và năng lực công tác của cán bộ là một quá trình thường xuyên, liên tục, lâu dài; là sự nỗ lực của các cấp lãnh đạo, các cơ quan đơn vị và từng cán bộ. Do đó, các cấp, các nghành, các cơ quan đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”  và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” kết hợp với các chế độ kiểm tra, giám sát. Thực hiện đúng nguyên tắc và phát huy vai trò giám sát của nhân dân đối với cán bộ và công tác phản biện xã hội. Kiên quyết và kịp thời xử lý cán bộ suy thoái về phẩm chất chính trị đạo đức lối sống, tạo không khí dân chủ, đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, đơn vị.

7.3- Thống nhất ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

          - Về công tác phê bình và tự phê bình chúng ta làm tương đối tốt . Dưới sự chỉ đạo của đ/c Bí thư, chúng ta phê bình góp ý cho nhau không phải chỉ đảng viên trong các cuộc họp Chi bộ hay kiểm điểm đảng viên cuối năm, mà góp ý cho nhau trong từng công việc, hay trong cuộc họp hàng tuần, hàng tháng của các bộ phận.

          -Trong năm vừa qua Lãnh đạo thực hiện nghiêm nguyên tắc trong sắp xếp, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ.

          - Không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức lối sống và năng lực của cán bộ bằng những việc làm cụ thể là tổ chức và thực hiện tốt công tác sinh hoạt chuyên đề.

          - Bên cạnh những việc đã làm được vẫn còn một số những tồn tại: một số ít đ/c chưa chấp hành mệnh lệnh của cấp trên dẫn đến công việc không trôi chảy, bị ách tắc.

- Tất cả những vấn đề chúng ta nêu ra tại chuyên đề đều đúng, chúng ta đã làm nhưng chưa sâu, phê bình nhưng chỉ phê bình nột cách chung chung, cơ quan ta ít người, phải bảo nhau đoàn kết, trong quá trình làm việc vẫn hỗ trợ nhau nhưng phải cầu thị, phải trau dồi tư tưởng, đạo đức.

Qua chuyên đề này mong rằng mỗi chúng ta cố gắng phấn đấu hơn, trước tiên để trau dồi chuyên môn cho mình, phát huy năng lực của bản thân và hơn nữa là vì sự đoàn kết và phát triển của cơ quan.

8. CHUYÊN ĐỀ: HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ TRONG VIỆC XIN CHỈ THỊ, GỬI BÁO CÁO.

8.1-Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xin chỉ thị, gửi báo cáo.

Cách đây 67 năm, ngày 30/7/1950, trên Báo Sự Thật, số 137, với bút danh X.Y.Z, Bác Hồ đã viết bài “Xin chỉ thị, gửi báo cáo”. Trong bài viết, Bác Hồ phê bình một số địa phương mắc phải bệnh “Trước khi làm, không xin chỉ thị. Khi làm rồi, không gửi báo cáo”. Người cho rằng: Thế là vô kỷ luật, vô chính phủ, địa phương chủ nghĩa; trái nguyên tắc “tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí”. Hay lại có các địa phương có xin chỉ thị, có gửi báo cáo, thì lại thường mắc những khuyết điểm: Cán bộ không nghiên cứu kỹ càng các chỉ thị. Không ra sức giải thích cho nhân dân hiểu rõ. Không biết áp dụng chỉ thị một cách mềm dẻo thích hợp với địa phương mình. Thi hành một cách máy móc và không triệt để. Báo cáo thì chậm trễ, làm lấy lệ. Báo cáo dối, giấu cái dở cái xấu, chỉ nêu cái tốt cái hay. Báo cáo bề bộn - chỉ góp báo cáo các ngành, các cấp dưới, rồi cứ nguyên văn chép lại gửi lên, v.v..

Những lời dạy của Bác vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi. Thời gian qua các phương tiện thông tin đại chúng tốn không ít giấy mực để nói về những việc làm sai trái của nhiều đơn vị, địa phương trong việc xin chỉ thị, gửi báo cáo.

8.2- Vì sao phải xin chỉ thị, gửi báo cáo?

- Vì sao phải xin chỉ thị? Theo Người khi làm cần phải xin chỉ thị Trung ương. Lý do, Người đưa ra là: Địa phương thường chỉ thấy tình hình ở nơi mình, không rõ tình hình các nơi khác, chỉ thấy một bộ phận, không thấy được bao quát. Trung ương thấy rõ tình hình toàn quốc, toàn diện; thấy rõ hiện tại và đoán biết tương lai; thấy rõ lợi hại chung cả nước. Vì vậy, địa phương không xin chỉ thị, thì không biết rằng một việc có thể lợi cho nơi mình mà hại cho nơi khác, lợi ở trước mắt, mà hại đến lâu dài về sau. Ví dụ: Tỉnh T không xin chỉ thị, mà tự động sửa đường sá. Nhân dân đi lại chẳng được bao lâu thì địch dùng đường ấy mà đánh vào tỉnh.

- Còn vì sao phải gửi báo cáo? Theo Người, địa phương báo cáo mau chóng, đều đặn, thật thà, thì Trung ương biết rõ tình hình để xét đoán, phê bình, giúp đỡ và chỉ thị một cách thiết thực, sát hoàn cảnh. Đồng thời để truyền bá kinh nghiệm nơi này cho những nơi khác. Nếu địa phương không báo cáo rành mạch, kịp thời, thì Trung ương không thể làm những việc đó.

Vì vậy, xin chỉ thị trước khi làm, gửi báo cáo khi làm xong - là một điều rất cần thiết, để làm cho chính sách của Đảng và Nhà nước thấu suốt từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên. Khi có vấn đề đặc biệt quan trọng, hoặc quan hệ đến toàn tỉnh thì phải hỏi chỉ thị của Tỉnh uỷ, quan hệ đến toàn Khu thì phải hỏi chỉ thị của Khu uỷ, gặp vấn đề có quan hệ đến toàn quốc, thì nhất định phải xin chỉ thị của Trung ương. Thí dụ:

- Khi định làm một việc gì quan trọng, thì phải nói rõ lý do, tình hình, điều kiện, mục đích của nó.

- Khi cần điều động một người cán bộ cao cấp, thì phải nói rõ lý lịch, năng lực, ưu và khuyết điểm của cán bộ ấy, vì sao cần phải điều động.

- Khi báo cáo phải: thật thà, gọn gàng, rõ ràng và thiết thực. Những tài liệu và con số phải phân tích và chứng thực. . Không nên hàm hồ, bèo nheo. Điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Không nên nói ẩu.

8.3- Thống nhất các ý kiến theo nội dung chuyên đề:

- Việc không xin chỉ thị, không gửi báo cáo là việc làm vô tổ chức, vô kỉ luật và trái nguyên tắc. Ở bất cứ cương vị nào mà coi thường chủ trương, pháp luật của Nhà nước, biết làm sai mà cố tình làm để mưu lợi cá nhân, làm ảnh hưởng tới tập thể, có khi ảnh hưởng tới xã hội thì rất đáng lên án.

- Một người có trình độ nhưng làm bất cứ việc gì cũng nhất nhất theo ý lãnh đạo thì người đó là người thụ động, sợ trách nhiệm, làm việc máy móc, không có tính sáng tạo, không cân nhắc lợi hại, đó còn thể hiện trình độ non kém của bản thân vì người có trình độ thực sự bên cạnh lối làm việc khoa học, họ còn có khả năng tham mưu cho lãnh đạo những phương án giải quyết công việc tối ưu hơn.

- Trong cơ quan ta, việc thực hiện xin chỉ thị, gửi báo cáo còn rất kém. Lãnh đạo ra chỉ thị mà không kiểm tra thì nhân viên không báo cáo lại, điều đó thể hiện sự thiếu tôn trọng cấp trên, thiếu tôn trọng lãnh đạo.

- Cơ quan có bộ phận đào tạo và hành chính, bộ phận đào tạo thực hiện việc xin chỉ thị rất tốt nhưng việc báo cáo chưa tốt, bộ phận hành chính chưa tốt cả việc xin chỉ thị lẫn báo cáo, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng trong đơn vị.

9- CHUYÊN ĐỀ: TÍNH CHUYÊN NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP

9.1- Vai trò và nhiệm vụ của kế toán:

- Kế toán  trong các đơn vị hành chính sự nghiệp là bộ phận tham m­ưu, giúp việc lãnh đạo  thực hiện chức năng tổ chức, quản lý trong công tác Tài chính – Kế toán theo chế độ Nhà nước ban hành, có nhiệm vụ:

- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

-  Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán.

-  Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán.

- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch tài chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.

-  Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.

- Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu; Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị.

- Bảo quản, lưu trữ hồ sơ, chứng từ, sổ sách liên quan đến công tác tài chính theo quy định của pháp luật.

                       

9.2-Các kỹ năng cần có của một kế toán chuyên nghiệp.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác kế toán, đòi hỏi người làm công tác kế toán phải có được những kỹ năng chủ yếu sau đây:

1-Tính chính xác

2- Chăm chỉ, cẩn thận.

3- Năng động, sáng tạo, luôn cập nhật kiến thức:

4- Làm việc có kế hoạch rõ ràng

5- Ngăn nắp, gọn gàng khoa học

6- Khả năng diễn đạt.

7- Khả năng chịu đựng áp lực công việc và biết cách quản lý sắp xếp thời gian

8- Có năng lực chuyên môn

9- Thành thạo máy tính và phần mềm kế toán.

10- Đạo đức nghề nghiệp

9.3- Thống nhất các ý kiến đóng góp theo nội dung chuyên đề:

- Kế toán của đơn vị cũng như người vợ (người chồng) giữ kinh tế, cần phải có sự chi tiêu đúng mức, có như vậy thì mới đảm bảo được hạnh phúc gia đình và tương lai con cái mai sau.

- Kế toán có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc thu chi tài chính, không có kế toán thì thủ trưởng không lập được kế hoạch, dự toán, Thủ quỹ cũng không chi được, nhân viên không lĩnh được lương.

-Trong cơ quan, việc thu, chi tài chính phải chính xác, đảm bảo đúng nguyên tắc, chế độ. Việc tham mưu công tác tài chính với lãnh đạo phải đi đúng với quy định của Nhà nước. Kế toán là một nghề mà luôn gắn liền với các con số, phản ánh thực trạng tình hình kinh tế của đơn vị, từ con số này thủ trưởng mới đưa ra được chiến lược phát triển của đơn vị mình.

-Một kế toán nếu làm tốt thì chưa chắc đã ai để ý, nhưng chỉ cần 1 nhầm lẫn nhỏ, sẽ ảnh hưởng rất nhiều.

- Đối với một người kế toán chuyên nghiệp cần phải có đủ 28 kỹ năng – cụ thể:

1. Có trình độ CM cao về kế toán

2. Đạo đức nghề nghiệp

3. Tính cẩn thận

4. Rèn luyện kỹ năng bước vào nghề

5. Kiến thức chuyên môn

6. Khả năng ngoại ngữ

7. Kiến thức về Tin học

8. Trung thực

9. Khách quan

10. Chính xác

11.Chăm chỉ cẩn thận

12. Năng động sáng tạo

13.Khả năng phân tích quan sát tổng hợp

14. Có tính độc lập cao trong công việc và có tinh thần tập thể

15. Khả năng diễn đạt

16. Khả năng chịu áp lực công việc

17. Yêu thích những con số

18.Khả năng lãnh đạo, khả năng xây dựng nhóm

19. Tinh thần làm việc nhóm

20. Chủ động và làm việc có mục đích

21.Nhà đàm phán tuyệt vời

22.Linh hoạt, khả năng đảm nhiệm nhiều vị trí công việc

23.Khiếu hài hước

24. Tích hợp tất cả các kỹ năng trong công việc

25. Nghĩ trước những câu chuyện nhỏ

26.Những điều kiện cần có của một kế toán

27.Biết cách quản lý thời gian

28. Ứng xử khéo léo.

Ở cơ quan ta, công tác kế toán là chuyên nghiệp, nhưng cách làm chưa chuyên nghiệp (trình độ chuyên môn là chuyên nghiệp nhưng năng lực chuyên môn chưa chuyên nghiệp) vẫn còn tồn tại hạn chế, cần học hỏi nhiều. Tính cẩn thận, khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo, chuyên môn còn cần phải cố gắng. Đ/c kế toán tự đánh dấu xem mình có được bao nhiêu kỹ năng trong 28 kỹ năng, còn thiếu kỹ năng nào thì khắc phục thêm, phải thực sự có ý thức và chuyên tâm trong công việc, hãy cố gắng hoàn thiện mình, hoàn thiện nghề của mình sao cho có ích cho bản thân, có ích cho Xã hội.

Trên đây là báo cáo tổng kết công tác chuyên đề tháng 8,9,10 của bộ phận Đào tạo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên.





(Theo Trung tâm GDTX tỉnh Hưng Yên)



Gửi qua YM

 Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Những bản tin khác:



Lên đầu trang
 Đăng Nhập 
Tên Đăng Nhập
Mật khẩu
Mã kiểm traMã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra
Ghi nhớ
 Hỗ Trợ Trực Tuyến 
 Thời Tiết 

Hà Nội
Thời tiết thủ đô Hà Nội

Hải Phòng
Thời tiết Bạch Long Vĩ, Hải Phòng

TP.HCM
Thời tiết TP. Hồ Chí Minh

 Quảng Cáo 
Đang khởi tạo các Logo...


Trang chính
Trang chủ Liên hệ BQT        
Trung Tâm Giáo Dục Thường Xuyên Tỉnh Hưng Yên.
126 Phạm Ngũ Lão - Quang Trung - TP Hưng Yên - Tỉnh Hưng Yên.
Tel: 0321. 3862855 – 3862928 Fax: 0321.3556568.
Email Liên Hệ TTGDTX Hưng Yên